Nước khoáng nước nóng “Một tiềm năng của ngành công nghiệp không khói”

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Việt Nam, các Viện Pasteur, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tế Trung ương, trường Đại học Dược khoa Hà Nội, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, trường Đại học Mỏ Địa chất… và việc ứng dụng trên thực tế của nhân dân thì ngoài việc được đóng chai để làm nước giải khác, NKNN còn được khai thác để chữa các bệnh như cơ khớp, da liễu, đường ruột, hô hấp, thần kinh, tim mạch, sún răng, xốp xương, làm năng lượng để sấy chè tươi, thuốc lá, nuôi tôm càng xanh vào mùa đông… Chính vì có những công dụng như vậy nên NKNN luôn có sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và khách nước ngoài. Nhiều công ty du lịch trong nước đã coi NKNN như một tiềm năng to lớn đối với ngành công nghiệp ống khói.
Ông Phan Ngọc Cừ, chuyên viên cao cấp (Văn phòng Chính phủ), một chuyên gia về NKNN, cho biết hiện cả nước có trên 300 nguồn NKNN, trong đó có khoảng trên 30 nguồn chiếm 10% đã và đang được khai thác với nhiều mục đích khác nhau. Một số nguồn được khai thác để đóng chai làm nước giải khác với số lượng lớn như nguồn Thanh tân (Thừa Thiên – Huế) với sản lượng từ 700.000 đến 1 triệu lít / năm, nguồn Kỳ Quế (Quảng Nam) với sản lượng 2,5 triệu lít / năm, nguồn Vĩnh Hảo (Bình Thuận) với sản lượng gần 19 triệu lít / năm, đặc biệt như nguồn Đảnh Thạch (Khánh Hòa) có sản lượng lên tới 40 triệu lít / năm. Nguồn Mớ Đá (Kim Bôi, Hòa Bình) được Nhà nghỉ Công đoàn tỉnh khai thác làm nơi điều dưỡng với hàng trăm giường bệnh, thu hút mỗi năm từ 7 nghìn đến 10 nghìn lượt khách. Nguồn Mỹ Lâm (Tuyên Quang) cũng khai thác NKNN để làm nơi điều dưỡn, chữa bệnh cho hàng ngàn lượt bệnh nhân/ năm. Nguồn Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu) từ năm 1989 lại đây, Công ty Du lịch của tỉnh đã xây dựng tại đây một trung tâm Du lịch kết hợp tằm ngâm chữa bệnh, hằng năm thu hút hàng vạn lượt khách… NKNN dùng làm nước giải khát để uống rất vệ sinh. Du khách đến các nguồn NKNN không chỉ để biết thêm một vùng đất lạ mà còn được tắm, thậm chí chữa hết một số bệnh. Nhiều chuyên gia thuộc Hội Địa chất – Thủy văn Việt Nam cho rằng, với tiềm năng NKNN to lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành một nền công nghiệp khai thác tổng hợp NKNN với mục đích chữa bệnh, phục vụ du lịch, năng lượng và có thể xuất khẩu.
NKNN là một tiềm năng của du lịch Việt Nam, ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm khai thác tiềm năng này. Trước hết, các công ty lữ hành nên tìm hiểu, nghiên cứu đưa các nguồn NKNN thuận lợi vào chương trình tour của mình để phục vụ du khách.
Trường Định -Tuần Du lịch – 1999

“Cưỡi ngựa xem hoa” ở Sydney

Sydney là thành phố lớn nhất và đông dân nhất của liên bang Australia. Từ trên máy bay nhìn xuống sân bay thấy nước biển xanh như ngọc. Sân bay Sydney sát bờ biển đến nỗi có cảm giác khi máy bay xuống đường băng, cánh của nó sắp chạm mặt nước.
Chúng tôi ở khách sạn Rex trên phố Macleay khu trung tâm thành phố. Sau bữa sáng, ai cũng phấn chấn vì đây là ngày chủ nhật mặc sức tham quan. Cả đoàn chọn tuyến đến khu Cầu Cảng, nhà hát Opera, vườn thú Taronga. Sau bến ga tàu điện ngầm có chuyến tàu chúng tôi đã đến khu nhà hát. Nhà hát độc đáo của Sydney và của toàn thế giới này như con thuyền căng buồm đang lướt trên mặt biển. Xung quanh nó những tàu thủy chở khách du lịch, thuyền buồm rộn ràng. Hải âu bay nhẹ nhàng đậu xuống lan can, mắt tròn xoe nhìn khách tham quan. Đứng ở thềm nhà hát nhìn sang Cầu Cảng thật thú vị. Chiếc cầu một nhịp cong như cầu vồng. Trên đỉnh cầu phất phơ bay lá cờ Australia. Du khách mua vé và đi lên điểm cao nhất để nhìn thành phố. Vé qua phà và tham quan vườn thú mất 22 đô la. Phà chạy chầm chậm trên mặt biển, tha hồ cho những phó nháy bấm máy. Quay phía nào cũng đẹp như tranh. Trời xanh, cây xanh, biển xanh, buồm trắng, sóng trắng, nắng vàng. Người sang vườn thú thường đi cặp, hoặc cả gia đình, gương mặt người nào cũng rạng rỡ. Tôi được qua Thảo Cầm Viên ở Sài Gòn và Thủ Lệ ở Hà Nội. Thật không thể nào sánh được Taronga. Đó là một khu vườn rộng lớn choáng cả bán đảo. Nhiều đoạn như là đi trong vườn Cúc Phương, có đoạn lại dốc như đường lên Tam Đảo. Vườn thật mênh mông với bao nhiêu là khu đặc biệt chắc phải đi vài ngày mới xem hết. Chúng tôi hẹn gặp nhau 2 giờ ở cửa ra. Ai đi xem gì tùy thích. Cá sấu, voi, kaola, cá heo, hổ báo, kanguru, hải cẩu, chim, rắn, ếch nhái. Chẳng cứ gì của Austrlia mà có thứ từ châu Á, châu u, châu Phi, châu Mỹ… Chúng tôi dừng khá lâu ở nhà hát cá heo. Hôm ấy thật rủi là các tài tử cá heo không biểu diễn. Sân khấu nửa vòng tròn nước xanh vắng teo. Lẽ ra còn định xuống khu thủy cung để nhìn các loại cá én lượn trên đầu và xung quanh mình qua lớp kính nhưng đã hết. Xem trên sơ đồ thì đi chưa hết ¼ khu vườn thú…
Chẳng hiểu là may hay rủi, khách sạn chúng tôi ở thuộc khu Kings cross. Một khu nức tiếng với các Nightclub, các cửa hiệu dành cho người lớn. Cứ độ mươi lăm mét lại có một nhà hàng hoặc là chiếu phim sex hoặc biểu diễn thoát y vũ. Nhân viên nhà hàng chào mời, chèo kéo khách thoải mái. Họ toàn là nam. Xem phim giá 5 đô la. Thoát y vũ 25 đô la. Khi chúng tôi đi dạo, nhà hàng Show Girls mời chào hạ giá chỉ còn 10 đô la một vé.
Ở Sydney không khó khăn gì lắm, bạn có thể ăn một bữa cơm đặc Việt Nam ở nhà hàng Việt Nam, hoặc Triều Tiên, hay Trung Quốc. Chúng tôi đến quận Banktown nơi có rất nhiều người Việt định cư. Có cả phố người Việt mà biển hàng nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh. Người Việt được nhận làm giáo viên dạy nhạc (anh Nguyễn Lê Tuyến), giáo viên môn tiếng Anh (chị Huỳnh Quốc Hương), làm cán bộ phòng giáo dục (anh Trần Long). Một điều vui là nhiều học sinh Việt Nam giỏi nhất nhì trường, nhưng hơi buồn khi chúng tôi gặp một học sinh lớp 11 trường Fairvale thì chúng tôi phải nói với nhau bằng tiếng Anh. Bởi tiếng Việt, có cháu trình độ chỉ như tiếng Anh của một số chú trong đoàn. Ấn tượng Sydney mạnh mẽ có lẽ là khu thể thao Homebush Bay được gọi là trái tim mới của Sydney chuẩn bị cho thế vận hội năm 2000
Chúng tôi vào nhà thi đấu bơi lội. Người Australia đã chuẩn bị cho thế vận hội thật chu đáo. Bể bơi thi đấu đã hoàn tất. Bây giờ nó mở cho tất cả những ai yêu thích bơi lội đến tập. Có khu bơi cho trẻ em, cho cả người tàn tật, cô gái phụ trách nói rằng khi thi đấu thế vận, người ta chỉ cần lắp hệ thống phao và máy đo thời gian là ổn. Và chỗ ngồi xem thì được nới thêm về phía sau. Không vào trong sân vận động chính nhưng chúng tôi được giới thiệu tỉ mỉ về nó. Sức chứa 110.000 người. Điểm cao nhất của sân là 58 mét so với mặt đất. Diện tích xây dựng 16 hecta. Khu vực đường chạy thi đấu rộng 120 mét dài 197 mét. Mái che 30.000 mét vuông. Nhịp đường cong chính dài 295 mét. Công ty Obayashi và công ty xây dựng tổng hợp xây dựng. Thiết kế Bligh Loff, các kiến trúc sư thể thao. Bắt đầu xây dựng tháng 9 – 1996, hoàn thành tháng 3 – 1999. Tổng chi phí 690 triệu đô la.
Chúng tôi ngẩng cổ nhìn hệ thống đèn chiếu sáng trên cao. Cảm thấy Australia có quyền tự hào về công trình thể thao đón chào sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh vào năm cuối cùng của thế kỷ 20. Và cũng thấy thấm thía sức mạnh kỳ diệu của con người.
Mong sao đến năm 2000, có nhiều người Việt Nam đến Australia để tham gia thế vận hội và khám phá nhiều điều kỳ diệu của một quốc gia đa văn hóa, đa dân tộc, giàu đẹp và mến khách. Dĩ nhiên trong số đó, tôi mong lại tới Australia lần nữa.
Nguyễn Sĩ Quế – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch sinh thái

Trong hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội vừa qua, lần đầu tiên một khái niệm về du lịch sinh thái được xác định trên cơ sở nghiên cứu khoa học có tính thực tiễn phù hợp với đặc trưng của Việt Nam. Trong đó, có một vấn đề quan trọng được đề cập tới, đó là sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Vậy cộng đồng có vai trò gì trong hoạt động du lịch sinh thái? Những ghi nhận dưới đây từ hội thảo sẽ trả lời câu hỏi này.
Theo kinh nghiệm của các nước đang có loại du lịch sinh thái thì sinh thái được nhìn nhận từ hai vấn đề: sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn. Tính nhân văn chính là mối quan hệ chặt chẽ giữa thiên nhiên với kiến thức văn hóa bản địa, trong đó cộng đồng địa phương là nhân tố quan trọng tạo ra và phát huy mối quan hệ đó. Một vùng sinh thái được đưa vào hoạt động khai thác du lịch sẽ có sự tác động qua lại tới cộng đồng dân cư ngay chính tại địa phương và trong vùng đệm. Đây là vấn đề phải được các nhà xây dựng quy hoạch nắm bắt và giải quyết một cách tốt nhất. Ở Thái Lan, khi nghiên cứu xây dựng quy hoạch khu du lịch sinh thái, vai trò của cộng đồng dân cư rất được coi trọng và thực tế đã đóng góp nhiều sáng kiến quý báu. Tại mỗi vùng sinh thái, mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và tài nguyên thiên nhiên được thiết lập từ lâu đời. Người dân tại địa phương đã sử dụng nguồn tài nguyên đó làm phương tiện sống hoặc kế sinh nhai của mình. Nên hơn ai hết, chính họ có được những hiểu biết từ kinh nghiệm thực tiễn, hoàn toàn có khả năng góp sức xây dựng quy hoạch, tham gia vào việc xây dựng những chính sách, chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.
Đối với các hoạt động đa dạng của du lịch, cộng đồng dân cư là nguồn nhân lực đáng kể. Những hướng dẫn viên là người địa phương (tất nhiên phải được đào tạo, tập huấn…) chắc chắn sẽ được du khách tin cậy bởi vốn kiến thức bản địa và được coi như một chủ thể trong chính nội dung du khách đang tìm hiểu. Những hoạt động khác như dịch vụ ăn, nghỉ, cung cấp hàng lưu niệm… cũng là những lĩnh vực thu hút đáng kể nhân lực từ cộng đồng. Đây là cơ hội tạo công ăn việc làm cho họ, giúp hoàn thiện cơ cấu kinh tế, ổn định đời sống. Chính họ sẽ là đội quân chủ lực trực tiếp tham gia bảo vệ môi trường tại khu vực đó. Ngoài ra lực lượng này còn trực tiếp nhắc nhở khách, chỉ dẫn, tuyên truyền hoặc cung cấp những thông tin kịp thời nếu có những vi phạm… góp phần nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên để cộng đồng dân cư phát huy tốt vai trò tham gia của mình thì các thành phần tham gia khác như Chính phủ, cơ quan quản lý du lịch, chính quyền địa phương, ngành chủ quản, công ty du lịch… phải giải quyết tốt những trở ngại trong việc tham gia của cộng đồng.
Trước hết cần sớm có chính sách khích lệ ở tầm vĩ mô đối với đời sống dân cư địa phương. Có thể là một mức thuế ưu đãi hay một hình thái kinh tế ưu tiên…Trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với cộng đồng dân cư rất quan trọng. Do nhận thức và dân trí trong vùng thấp nên cần có các tổ chức hợp lý, phát huy tốt thế mạnh của dân, khuyến khích cộng đồng tham gia hoạt động du lịch có hiệu quả. Ở Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), việc chính quyền địa phương vào cuộc, với sự phân chia số thuyền chở khách hợp lý đã tạo sự cân bằng trong thu nhập. Việc bảo tồn các di sản thuộc sở hữu của dân nhất thiết phải có sự hỗ trợ kinh phí từ Nhà nước hoặc doanh nghiệp du lịch…, đồng thời tư vấn cho họ những giải pháp để bảo tồn. Cần có kế hoạch tốt để giải quyết việc chuyển đổi ngành nghề khi có nhu cầu thay đổi do phát triển du lịch sinh thái trong vùng, đảm bảo bình ổn đời sống của dân. tất nhiên không thể thiếu sợ hỗ trợ về tài chính, đào tạo dạy nghề… Ở Ao Vua (Hà Tây), Ban quản lý đã hỗ trợ địa phương quy hoạch làng xã, mở trường lớp cho học sinh, giao đất giao rừng để dân tự đầu tư, quản lý…
Hiện nay ở một số khu du lịch, do tác động của nhiều nguồn khách, nét văn hóa bản địa bị lai tạp, thoái hóa, mất dần tính hấp dẫn vốn có. Do đó, ngoài việc hạn chế tối đa những xâm hại ảnh hưởng từ lối sống đô thị, tệ nạn xã hội, giá cả thị trường… cần có chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức để người dân thấy rõ bản sắc văn hóa địa phương là tài nguyên quý giá của chính mình. Thường xuyên cung cấp thông tin cho họ, luôn kịp thời bổ sung kỹ năng hoạt động du lịch, bảo tồn cho cộng đồng.
Để khuyến khích cộng đồng tham gia đầu tư vào hoạt động du lịch, bảo tồn, Nhà nước, Chính quyền địa phương, các doanh nghiệp cần có sự đầu tư ban đầu vào những công trình cơ sở hạ tầng, những hạng mục mẫu…, kèm theo những chỉ dẫn định hướng…
Một vấn đề quan trọng khác mà thực tế đang là mâu thuẫn cơ bản giữa cộng đồng với các nhà quản lý du lịch, khu bảo tồn đó là phân chia lợi ích. Không thể đòi hỏi cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào các hoạt động du lịch, nhất là công tác bảo tồn mà họ lại không được chia sẻ lợi ích thỏa đáng từ thu nhập du lịch. Việc này không thể xử lý ngẫu hứng mà cần có thể chế rõ ràng, có cơ quan kiểm soát những cam kết đã thỏa thuận.
Như vậy, vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong hoạt động du lịch sinh thái là hết sức quan trọng và đáng được đề cao. Sự thành bại của một chương trình du lịch sinh thái không thể thiếu vắng yếu tố quan trọng này. Do đó ngay từ bây giờ, khi bắt đầu xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, các chuyên gia nghiên cứu, các nhà quản lý rất cần quan tâm tới vấn đề này.
Bùi Hoàng – Tuần du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Những cái chết đã được báo trước_Phần 3

Có nhiều hộ còn làm mọi chuyện ngay trên đường ray như lôi sắt thép lên gò hàn, lôi lốp xe máy, xe đạp, ô tô vứt tứ tung lên đường ray.
Với 9km đường sắt nhưng có hơn 100 đường dân tự phá để đi cũng nói lên tình trạng coi thường luật lệ giao thông. Đó cũng bởi thói quen “đi ngang về tắt” một cách tùy tiện của người dân. Hỏi một số người mà gia đình họ tư phá hàng rào bảo vệ để đi thì họ trả lời: “Không mở thì đi ở đâu? Có tai nạn chết người thì cũng đâu phải nhà mình mà sợ!”. Thậm chí có người còn đùa “Ôi, chết thì lo gì! đã có quan tài đây, vòng hoa cờ phướn kia rồi”. Chả là gần ga Văn Điển có cửa hàng bán những thứ đó. Dân cứ phá ra, ngành đường sắt đứng nhìn và người người vẫn và sẽ đi qua những nơi này bởi vì đó là nhu cầu.
Trách nhiệm còn để ngõ
Tháng 9 là tháng an toàn giao thông, ngành đường sắt cũng trống dong cờ mở hưởng ứng phong trào này. Những ngày đầu tháng 9 ngành “ra quân” đi “giải tỏa” dọc tuyến. Nhưng kết quả mới chỉ là giải tỏa những việc “cỏn con” như dẹp hết những việc buôn bán, sinh hoạt trên đường ray và bên cạnh đường ray. Còn việc giải tỏa nhà dân đi để làm hành lang an toàn thì để “làm sau”(?). Nếu vậy thì những nhà dân bên cạnh “đoạn đường tử thần” vẫn còn cơ hội nán lại và nghe ngóng.
Ngày 4/8/1999 Bộ Giao thông Vân tải đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai dự án quy hoạch lại hệ thống đường ngang trên toàn tuyến đường sắt. Tổng số vốn đầu tư cho dự án này cần từ 500 đến 700 triệu đồng. Nhưng nhiều người vẫn hoang mang liệu dự án này có thực hiện được không?
Liệu khi đã có dự án thì việc di dời dân để làm hành lang an toàn và ngăn chặn, khắc phục hậu quả do những đường ngang dân sinh trên đoạn đường từ ga Hà Nội tới ga Văn Điển sẽ ra sao? Ngành đường sắt cũng có lý khi nói rằng địa phương phải có trách nhiệm quan tâm đến những người dân của mình và bảo vệ đường sắt ở địa phương mình. Chính quyền địa phương cũng có lý khi “luôn tuyên truyền giáo dục nhưng dân thiếu ý thức chấp hành” và “chưa đủ kinh phí để xin lập đường ngang”. Và người dân qua lại càng có lý khi họ “có nhu cầu đi lại, không đi qua những đường ngang ấy thì đi đường nào”. Suy cho cùng thì ai cũng có cái lý của mình. Chỉ có thể dứt điểm những vấn đề này khi mà cả người dân, chính quyền địa phương và ngành đường sắt cùng quan tâm trích ngân sách hoặc kêu gọi đầu tư để ủng hộ việc giải quyết vấn đề an toàn cho “đoạn đường tử thần” này.
Kim Ngân – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Những cái chết đã được báo trước_Phần 2

Ai là người có lỗi?
Các điểm luôn xảy ra tai nạn là những nơi có đường bộ chạy ngang qua đường sắt, và hầu hết lại ở các đường ngang không phòng vệ. Các đường ngang này do người dân tự phá hàng rào bảo vệ ngoài đường ray để đi. Tính từ Ga Hà Nội tới ga Văn Điển có hơn một trăm đường ngang từ 1 mét tới 6 mét. Trừ một số đường ngang có phòng vệ của ngành đường sắt còn hầu hết những đường ngang là do dân tự mở.
Có một điều chắc chắn rằng các đường ngang dân sinh này đều không đảm bảo an toàn. Ở đó đã không có gác chắn lại cũng không hề có biển báo hoặc một dấu hiệu gì để người đi đường phải thận trọng khi vượt qua đường sắt. Đặc biệt ở các đường ngang có mật độ người qua lại đông như đường vào Công ty thương mại Thanh Trì và làng Ngâu, đường vào cơ sở 2 của bệnh viện K, đường vào trường PTTH Việt Nam – Ba Lan, chợ Pháp Vân… là nơi luôn xảy ra tai nạn, và điều kinh khủng này lặp đi lặp lại hàng năm, hàng tháng. Không phải ngành đường sắt không biết điều này nhưng vì đây là đường ngang dân sinh nên “đành” để cho địa phương tự giải quyết. Bởi vì ngoài những đường ngang có phòng vệ thuộc sự quản lý của ngành đường sắt thì ngành không thể đủ kinh phí để làm đường ngang cho tất cả các khu dân cư mới trở nên đông đúc xung quanh khu vực có đường sắt chạy qua. Với các đường ngang tự mở thì chính quyền địa phương hoặc cơ quan phải xin thành lập đường ngang và “phải chịu toàn bộ kinh phí về xây dựng (bao gồm các kinh phí về công trình, trang thiết bị, tín hiệu và báo hiệu thuộc về đường ngang trên đường sắt và đường bộ)”. Xí nghiệp Đường sắt Hà Hải – Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 1 trực tiếp quản lý “đoạn đường tử thần” này cho biết là đã phối hợp với địa phương để giải quyết vấn đề đường ngang này, nhưng không thể dứt điểm được nên đành “phó mặt”. Theo nghị định 39/CP thì hành lang an toàn của đường sắt sẽ có chiều rộng là 5,6m mỗi bên (tính từ đường ray ra cột chỉ giới đường sắt). Nhưng hiện nay trên đoạn đường sắt từ ga Hà Nội tới ga Văn Điển chưa hề có một đoạn nào đảm bảo yêu cầu này, có chăng thì đó chỉ là khu vực để tàu vào đón – trả khách ở mỗi ga. Nhà dân ở ngay bên cạnh đường sắt nằm ngay trong khu vực hành lang an toàn, có chỗ chỉ cách hơn 1m như đoạn đầu Khâm Thiên xuôi theo đường Giải Phóng. Ở bên cạnh đường tàu buộc dân phải phá hàng rào ra để đi, để kinh doanh.
Kim Ngân – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Những cái chết đã được báo trước_Phần 1

Nếu tính từ Ga Hà Nội đến Ga Văn Điển thì đoạn đường “tử thần” này dài chưa đầy chục cây số nhưng mức độ nguy hiểm lại gấp nhiều lần những đoạn đường dài hơn. Trong vòng 8 tháng năm 1999, đoạn đường này đã lấy mạng sống của hơn hai chục người. Tai nạn xảy ra không chỉ đơn thuần là sự thiệt hại về người, của mà cho chúng ta thấy mức độ không an toàn ở đoạn đường này đã lên đến báo động.
Chắc chắn chưa ai quên vụ tai nạn xảy ra vào ngày 29/7/1999 tại đường ngang vào nhà máy cơ khí Quang Trung. Tàu S7 với đầu máy 637 kéo 13 toa chở hành khách đã đâm vào ô tô mang biển số 20K-3289 do anh Trịnh Ngọc Khánh lái. Nguyên nhân là do người gác quên hạ barie xuống nên khi anh Trịnh Ngọc Khánh lái xe vào không hề biết tàu đang ở khoảng cách quá gần.
Theo số liệu mà xí nghiệp Liên hợp Đường sắt khu vực I thống kê thì không thấy một tháng nào trong năm là không xảy ra tai nạn. Thậm chí có những tháng liên tiếp xảy ra như tháng 2 (3 vụ) tháng 5 (3 vụ) tháng 7 (6 vụ) hoặc trong một ngày xảy ra 3 vụ như ngày 30 tháng 8. Không ai muốn nghe đến những con số đượm mùi chết chóc nhưng không phải ai cũng biết quan tâm, lo sợ cho số phận mình một cách đúng mức. Và thần chết luôn giơ lưỡi hái của mình lên một cách lạnh lùng. Ngày 20/5/1999 anh Nguyễn Văn Đại chở anh Oanh bằng xe máy đi qua đường ngang tại cây số 8+100 vừa lúc tàu 71 (Yên Bái – Hà Nội) tới. Hai người này và cả gia đình họ đều không thể ngờ cái ngày 20/5 ấy trở thành một ngày định mệnh. Đáng thương hơn là vụ tai nạn xảy ra với 2 người tại cây số 2+750 vào ngày 3 Tết. Tàu V4 (Vinh – Hà Nội) với đầu máy 601 kéo 12 toa hành khách đã cán chết cả 2 người.
Chỉ riêng trong tháng 7 và tháng 8 “đoạn đường tử thần” này đã xảy ra 11 vụ tai nạn. Con số đó đã cho ta thấy tình trạng mất an toàn ngày càng tăng của đoạn đường này. Người dân sống xung quanh khu vực có đường sắt chạy qua nỗi sợ hãi luôn thường trực. Chị Nga – một người dân ở làng Tứ Kỳ, xã Hoàng Liệt, huyện Thanh Trì nói: “Trong làng hầu như nhà này cũng có trẻ con đi học, mỗi khi nghe tiếng tàu phanh mà con chưa đi học về là ai nấy đều sởn cả gai ốc. Thỉnh thoảng lại có người chết vì tàu cán nên sợ lắm cô ạ”. Chẳng riêng gì người phụ nữ này lo lắng, cả Hà Nội và các cơ quan chức năng rơi vào cảm giác bất an. Bao giờ “đoạn đường sắt tử thần” Hà Nội – Văn Điển sẽ không còn là nỗi kinh hoàng của mỗi người khi phải đi qua?
Kim Ngân – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Bến Tre phát huy tiềm năng du lịch

Cơ sở vật chất du lịch Cồn Phụng hiện có, khách sạn nhà hàng và các dịch vụ du lịch quá đơn điệu nghèo nào lạc hậu. Vị trí xây dựng kiến trúc và kết cấu phi mỹ thuật không phù hợp cảnh quan hiện tại. Di tích tham quan chưa được tôn tạo đúng mức, trang trí kém hài hòa đồng bộ. Vậy ta có thể tự nghĩ, cơ sở vật chất sản phẩm du lịch ở Cồn Phụng cơ ngơi chỉ có ngàn ấy, nếu đem sách với một điểm du lịch đã nổi tiếng từ lâu, có một vị trí đặc biệt cửa ngõ vào thị xã Bến Tre thuộc tỉnh Bến Tre (tiền đề của quê hương Đồng Khởi) thử hỏi. Cồn Phụng hiện nay có tương xứng với tiềm năng và vị trí đặc biệt hiện có của tỉnh Bến Tre không? Phải chăng, khu du lịch Cồn Phụng thiếu kinh phí hay tài năng không phù hợp với tiềm năng?. Để biết điều này tôi đến Công ty du lịch Bến Tre. Tại đây ông Năm Bằng, giám đốc Công ty cho biết: Cồn Phụng không thuộc cơ sở vật chất của công ty du lịch do ông quản lý, mà là của công đoàn Bến Tre đang trực tiếp kinh doanh. Ông cho biết thêm, đúng ra ban lãnh đạo cấp tỉnh đã có quyết định sáp nhập Cồn Phụng cho công ty du lịch Bến Tre để phát huy tiềm năng du lịch từ lâu, nhưng vì chưa ngã ngũ, nên kéo dài đến hôm nay… đành chịu…! Tôi hỏi: Theo ông, nếu du lịch Cồn Phụng trực thuộc công ty ông, ông có dự kiến và dự án gì mới không?
Ông đáp: Là một trong những thành viên kinh doanh của một thành viên kinh doanh của một đơn vị làm kinh tế của tỉnh nhà không ngoài chủ trương và mục đích làm giàu cho tỉnh. Còn vấn đề về dự kiến và dự án phát triển khu du lịch Cồn Phụng đối với Công ty chúng tôi đã có từ lâu vì đây đã được xác định kỹ. Cồn Phụng có một thế đứng du lịch rất lý tưởng của Bến Tre và cũng rất hấp dẫn đối với du khách đặc biệt là khách nước ngoài. Qua đó hướng công ty trước tiên là lo tôn tạo di tích “Đạo Dừa” một cách nghiêm túc, có tính cách hiện đại hơn nhưng vẫn giữ nét nguyên thủy của nó, đồng thời xây dựng lại hệ thống những sản phẩm dịch vụ du lịch một cách bài bản, tuần tự, chất lượng cũng như số lượng đạt kỹ thuật, mỹ thuật, phù hợp với cảnh quan vốn có. Kể đến là xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở kỹ thuật hóa, đắp bờ kè quanh khu vực di tích “Đạo Dừa” tảo a bề mặt Cồn Phụng thêm sinh động, bề thế, cặp bờ kè là các dịch vụ du lịch phục vụ khách tản bộ ngắm cảnh thưởng ngoạn mua sắm cũng như ăn uống nhẹ. Riêng nhà hàng cũ trước đây cho cải cách và xây dựng mới lạ hoàn toàn, nhưng vị trí phải lùi về phía sau nhường chỗ phần đất cho xây hồ bơi nằm giữa, vì phần trước là khách sạn. Các khách sạn cũng phải xây dựng mới lại ở dạng tiêu chuẩn từ một sao đến hai sao. Các dịch vụ thể thao sân tennis câu lạc bộ giải trí quầy lưu niệm cũng như các trò chơi giải trí khác theo từng bố cục mà bố trí hình thành đồng bộ. Được như vậy thì hay quá, nhưng thưa ông đến bao giờ?… Ông nhìn tôi xa vắng mà nói: Đúng ra, thời gian quy hoạch xây dựng không phải lâu lắm! Nhưng có điều, ngày khởi công chưa có…! Và lại cốt lõi do Ban lãnh đạo cấp tỉnh quyết định cũng như ý kiến của Ban giám đốc du lịch Công Đoàn. Nếu khu du lịch Cồn Phụng được như thế theo ý kiến của ông Năm Bằng, dù có hơi muộn, nhưng cũng ít ra Cồn Phụng còn có hy vọng trở thành một điểm du lịch đầy hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước về tham quan Bến Tre. Và đây cũng là một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh nhà trên bước đường phát triển kinh tế công nghiệp hóa hiện đại hóa. Thiết tưởng: “Ngày làm tháng ăn” kính chuyển quý cơ quan chức năng, đặc biệt Ban lãnh đạo tỉnh Bến Tre bớt chút thời gian xem xét lại Cồn Phụng, đánh thức dậy khu du lịch đã ngủ một giấc dài gần nửa thế kỷ.
Liu Sơn-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Dần dần từng bước đưa việc quản lý vịnh Hạ Long vào nề nếp

Ngay từ ngày đầu tiên thành lập Ban quản lý vịnh Hạ Long đã xác định nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ bằng được môi trường của vịnh. Ban đã ban hành những quy chế, quy định cụ thể về mặt này. Theo đó, các tàu thuyền hoạt động trên vịnh đều phải có thùng chứa chất rắn, để khi lên bờ đổ vào nơi quy định. Đại bộ phận các tàu du lịch ngày nay đã thực hiện đúng quy định này. Tại các cửa hang hoạt động đón khách đều có những nhà vệ sinh công cộng và các thùng chứa rác, ngay trong hang động, cũng có khá nhiều thùng rác. Vì vậy tư cách của khách du lịch cũng được nâng lên không còn ai vứt rác hay tàn thuốc lá ra hang động, không ai dám xả nước bừa bãi vào những chỗ kín trong hang. Rác trôi nổi ở ngoài cửa hang được Ban quản lý vịnh Hạ Long giao cho các ngư dân có trách nhiệm thu gom sạch sẽ, để đổi lấy việc họ được buôn bán nhỏ ở vùng nước trước cửa hang. Ở vùng ven bờ thành phố Hạ Long hiện nay vẫn còn khá nhiều rác trôi nổi do khả năng của công ty quản lý môi trường của thành phố rất là hạn chế, không với tới được. Vấn đề này đang còn bỏ ngỏ, năm 2000, và những năm tới sẽ phải giải quyết dứt điểm. Để dần dần từng bước đưa việc quản lý vịnh Hạ Long vào nề nếp, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành một loạt các quyết định quan trọng quyết định số 1185/QĐ –UB ngày 18 tháng 4 năm 1998, về thống nhất giá tham quan du lịch vịnh, quyết định số 1199/QĐ – UB ngày 22 tháng 4 năm 1998 quy định về giá cước vận chuyển khách du lịch, quyết định ngày 6 tháng 8 năm 1998 về phân công thu gom rác và cuối cùng là quyết định 419 QĐ/UB ngày 2 tháng 3 năm 1999 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ban quản lý vịnh Hạ Long thay thế cho quy định trước đây ban hành tháng 1 năm 1996. Căn cứ vào những hành lang pháp lý quan trọng đó, ngày nay Ban quản lý vịnh Hạ Long ung dung triển khai các hoạt động của mình mà không phải băn khoăn liệu là ăn thế này như thế kia có đúng hay không. Từ 12 người ban đầu ngày nay Ban quản lý vịnh Hạ Long đã có một đội ngũ Cán bộ công nhân viên là 140 người, trong số đó có 35% có trình độ cao đẳng và đại học, 27% có trình độ là trung cấp. Hầu hết Cán bộ công nhân viên của Ban đều có trình độ ngoại ngữ B – C tiếng anh hoặc tiếng Trung. Việc đào tạo lại và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên được ban hết sức quan tâm. Nói về chương trình hoạt động của Ban trong năm 2000 và những năm đầu thế kỷ 21, ông Nguyễn Văn Tuấn, Trưởng ban Ban quản lý vịnh Hạ Long cho biết: Năm 2000 này công việc của Ban thật là đầy ắp trước hết là khoảng giữa năm sẽ thành lập Công ty dịch vụ vịnh Hạ Long thuộc ban Ban quản lý vịnh Hạ Long với một đội ngũ tàu mạnh gồm có 10 chiếc với các trọng tải khác nhau có 80 chỗ ngồi, 50 chỗ ngồi, 30 chỗ ngồi và 15 chỗ ngồi.
PV-Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Đoàn tàu phục vụ Festival Huế năm 2000

Festival Huế năm 2000, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 19 tháng 4 năm 2000 ước tính thu hút hơn là 20 nghìn khách du lịch nội địa và quốc tế. Trong số đó, rất nhiều người chọn phương tiện tàu hỏa để tới Huế. Riêng trong tháng 4 năm 2000 Liên hợp đường sắt Việt Nam tổ chức thêm “Đoàn tàu phục vụ Festival Huế năm 2000” chạy tuyến Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại. Vậy công tác giữa trật tự an toàn cho hành khách trên những chuyến tàu được thực hiện ra sao? Trả lời về vấn đề này, thượng tá Trần Sâm – Trưởng phòng hướng dẫn và tổ chức tuần tra, kiểm soát giao thông đường sắt HD và Tổng cục thanh tra kiểm soát giao thông đường sắt thuộc Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt Bộ công an cho biết: Chúng tôi xác định đây là công tác trọng điểm trong tháng này và đã lập kế hoạch rất là kỹ lưỡng. Cục cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt bố trí công tác do tôi dẫn đầu đi kiểm tra, khảo sát tại Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và các vùng phụ cận nghiên cứu phương án đảm bảo an toàn cho các chuyến tàu chở khách du lịch dự Festival Huế 2000. Trên cơ sở đó, giao cho đội cảnh sát bảo vệ xe lửa số 5 phụ trách tuyến đường Hà Nội – Huế, đội 8 phụ trách tuyến đường thành phố Hồ Chí Minh – Huế, đội 7 đóng ở Đà Nẵng điều 12 cảnh sát vào Huế tăng cường cho lực lượng tại đây. Mỗi chuyến tàu thường xuyên có 3 cảnh sát giao thông đường sắt ứng trực nhiều hơn bình thường không được đổi ca dọc đường mà phải theo suốt tuyến để bám sát nắm tình hình. Ở những ga lớn như Hà Nội, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới lực lượng cảnh sát giao thông đường sắt kết hợp chặt chẽ với công an địa phương sẵn sàng xử lý các vụ việc bất thường. Chúng tôi chỉ đạo cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ chú ý kiểm tra hành khách không để mang chất cháy nổ lên tàu, kết hợp với Cục Cảnh sát hình sự nắm đối tượng nghi vấn, lập phương án chống trộm cắp trên tàu và trong sân ga, đặc biệt tại ga Huế nơi sẽ tập trung rất đông người. Tuyệt đối không để hàng rong lên tàu vì họ thường mất trật tự nhất, rất dễ xảy ra trộm cắp. Lãnh đạo Phòng hướng dẫn và Tổng cục thanh tra kiểm soát giao thông đường sắt và Tổ công tác sẽ thường xuyên giám sát tình hình trên các tuyến để có phương án ứng phó kịp thời.
Phóng viên: Khách du lịch rất lo ngại về tình trạng ném đá lên tàu và các tai nạn giao thông đường sắt ảnh hưởng đến thời gian chạy tàu. Lực lượng cảnh sát đường sắt giải quyết hai vấn đề như thế nào, thưa ông?
Thượng tá Trần Sâm: Nhiều năm nay, chúng tôi và ngành Đường sắt liên tục thực hiện các biện pháp thiết thực nhất nhằm hạn chế tối đa nạn ném đá, chất bẩn lên tàu hỏa. Tuy nhiên do thủ phạm thường là trẻ em hành động ngẫu hứng nên phải chủ động phòng ngừa là hơn hết. Đặc biệt trong dịp này nhiều hành khách là người nước ngoài, nếu để xảy ra tai nạn thì rất đáng tiếc. Trong quý I năm nay, toàn quốc chỉ xảy ra tám vụ ném đá lên tàu rất ít song bốn vụ xảy ra trên tuyến Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình nên chúng tôi và nhân viên đường sắt trên tàu vẫn chú trọng kiểm tra, yêu cầu khách hạ cửa lưới chống ném đá. Như vậy dù không cảm thấy thoải mái cho lắm nhưng vì an toàn chung mong mọi người đều chấp hành. Với khách nước ngoài cần giải thích kỹ tác dụng của cửa lưới vì có thể họ không ngờ rằng lại tồn tại một tệ nạn ném đá lên tàu. Trường hợp xảy ra tai nạn giao thông, đã có quy trình: Cảnh sát giao thông cùng nhân viên đường sắt lập biên bản trong khoảng 5 phút rồi cho tàu chạy tiếp. Như vậy, với hàng trăm lượt cảnh sát giao thông đường sắt thường xuyên ứng trực trên các chuyến tàu du lịch, khách du lịch hoàn toàn có thể yên tâm. Chúng tôi khẳng định sẽ cố gắng hết mình đảm bảo giữ gìn tình hình trật tự an toàn tốt nhất trên các đoàn tàu phục vụ Festival Huế 2000.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông.
Trịnh Hiếu -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 2000.

Con đường dẫn chúng tôi đến với các em

Nhân ngày quốc tế Thiếu Nhi ngày 1 tháng 6, từ ngày 19 tháng 5 đến ngày 2 tháng 6 năm 2000, tại Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Vân Hồ, Hà Nội, Bộ văn hóa Thông tin, ủy ban chăm sóc và bảo vệ trẻ em Việt Nam. Bộ giáo dục và đào tạo kết hợp tổ chức Hội chợ đồ chơi trẻ em lần thứ II và trưng bày phòng triển lãm “con đường dẫn chúng tôi đến với các em”. 250 tranh, ảnh của 61 tỉnh thành với nhiều gương giúp trẻ em nghèo vượt khó, giúp đỡ trẻ em tàn tật. Bộ Văn hóa – thông tin còn trưng bày phòng triển lãm những kỷ vật của Bác Hồ với dân tộc thiểu số. Hơn 50 doanh nghiệp trong nước đã tham gia trưng bày giới thiệu và bán nhiều sản phẩm đồ chơi với mẫu mã phong phú, đa dạng…
Phú quốc 21 nghìn khách Du lịch quốc tế đến tham quan bằng tàu super star Aries
Trong 30 chuyến từ ngày 2 tháng 10 năm 1999 đến ngày 6 tháng 5 năm 2000, tàu Super Star Aries đã đưa khoảng 21 nghìn du khách đến Phú Quốc. Đây là hợp đồng giữa Sài Gòn Tourist, Công ty Du lịch Kiên Giang và hãng tàu biển Star Cruies của Malaysia, chiều thứ bảy mỗi tuần tàu Super Star Aries sẽ từ Thái Lan đưa du khách lên đảo Phú Quốc. Dự kiến đến cuối năm 2000, Phú Quốc sẽ đón khoảng 44 nghìn khách quốc tế của 64 chuyến tàu. Được biết hãng tàu Malaysia đã đầu tư 1,3 tỷ đồng xây dựng nhà chờ, cầu cảng phục vụ du khách và đưa vào sử dụng cuối tháng 4nawm 2000.
Thành lập Hội Tin học – Viễn Thông Hà Nội
Đầu tháng 5 vừa qua, Hội tin học và viễn thông Hà Nội đã được công bố thành lập với chức năng chính là tổ chức các trung tâm đào tạo tin học cơ sở và nâng cao xây dựng wedsite riêng, phối hợp với Sở giáo dục, Sở Khoa học Công nghệ – môi trường, tổ chức thi Olympic tin học thiếu nhi, học sinh, tổ chức các hội thảo chuyên đề, đào tạo tập huấn công nghệ thông tin và viễn thông cho cán bộ công nhân viên thủ đô. Bên cạnh đó với vai trò hội viên, Hội tin học – viễn thông sẽ phối hợp với hội Tin học Việt Nam và các cơ quan thành phố triển khai một số dự án để nâng cao năng lực và hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông của Hà Nội. Đây là mô hình đầu tiên kết hợp tin học – viễn thông nhằm mục đích tập hợp lực lượng đẩy mạnh sản xuất, nghiên cứu, phổ biến và ứng dụng tin học – viễn thông vào phát triển kinh tế. Ông Mai Anh – Tổng thư ký Hội tin học Việt Nam được bầu làm chủ tịch hội.
V.H -Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(131)2000.