Tử Trầm Sơn và nỗi ước mong của người dân quê tôi

Truyền thuyết kể rằng, từ thời xa xưa lắm, vào một đêm trời đầy sao, bỗng nơi đây rơi xuống một ngôi sao sáng nhất có tên là Tử Vi Tinh và ngay sau đó hóa thành dãy núi đá tuyệt đẹp có tên gọi là Tử Trầm Sơn, gồm có 5 đỉnh lớn giống như 5 con phượng hoàng khổng lồ đang nhô đầu lên cùng tạo dáng uy nghi. Phải chăng mảnh đất này vốn sẵn khí linh để đất trời cũng phải rung động?
Tuy có diện tích không lớn lắm, nhưng Tử trầm Sơn có đủ dáng vẻ thiên nhiên đa dạng. Các hang động nơi đây thật là đẹp. Trong đó hang lớn nhất có tên gọi động Long Tiên. Đó là một hang vừa rộng lớn, vừa mang vẻ đẹp huyền ảo, ẩn nấp sau một rừng cây che phủ. Trong hang có những nhũ đá tạo hình dáng kỳ thú, có những lỗ thông trên trời, khiến vẻ đẹp càng trở nên huyền ảo hơn khi ánh sáng roi vào lấp lánh, lung linh. Rất nhiều bức tượng đã được thờ trong hang, trong đó đáng chú ý là 48 pho tượng được đúc từ thời vua Lê Hy Tông (1696).
Tử Trầm Sơn đã từng góp mặt vào nhiều chiến tích trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc. Chính nơi đây, ngày 20/12/1946, Đài Tiếng nói Việt Nam (lúc ấy sơ tán vào Chùa Trầm) đã phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, mở đầu một giai đoạn lịch sử oanh liệt chống thực dân Pháp của nhân dân ta suốt 9 năm gian nan và thắng lợi. Sắc màu huyền diệu và giá trị vô song của Tử Trầm Sơn càng lớn lao biết nhường nào khi cũng chính nơi này, đã hai lần được Bác Hồ về. Đó là tết Đinh Hợi (1947) và mùa hè năm 1966, lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc đang trong giai đoạn vô cùng quyết liệt. Mặc dù rất ít thời gian lưu lại, cùng với bao công việc bận rộn, nhưng Bác Hồ với một tâm hồn nhạy cảm với vẻ đẹp thiên nhiên vẫn kịp dành cho Tử Trầm Sơn câu thơ “ứng tác” rất hay trong lần đầu đến thăm:
“Cao sơn hữu ý thiên nhiên bút
Lưu thủy vô danh vạn cổ cầm”
Nghĩa là: (Núi cao, nghìn năm không bút nào tả hết nước chảy trong hang hay hơn cả tiếng đàn) Thật là một vinh dự lớn lao cho quê hương!
Trong những năm đất nước đánh Mỹ, rất nhiều các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã về thăm và kiểm tra tình hình tại khu vực Tử Trầm Sơn, góp phần vào quá trình lãnh đạo cược khành chiến vĩ đại của dân tộc ngay từ địa danh oai hùng này…
Một ngày chủ nhật đầu thu, nắng đã nhạt, gió heo may đã dập dìu ẩn hiện, tôi lại cùng vài ba người bạn, thăm thú Tử Trầm Sơn ngay trên đất quê nhà.
Vết tích đáng buồn của một thời đua nhau nổ mìn phá đá vần còn đó, loang lổ, đổ vỡ và cướp đi bao vẻ đẹp xưa kia vốn có. Dù sao cũng đáng mừng là cảnh nổ mìn đã không còn nữa. Nhưng, có một điều gì đó đang còn thiếu, còn như đợi chờ một bàn tay “mầu nhiệm” góp vào? Chỉ một chiếc xe ô tô khách với vài chục người lẻ tẻ ghé thăm khu di tích! Lác đác vài em nhỏ bán hàng rong… Khiêm tốn quá chăng? Sự đông vui, nhộn nhịp trong cảnh viếng thăm một danh thắng vừa đẹp về dáng vẻ, vừa đẹp trong giá trị văn hóa, lịch sử lẽ ra phải là điều “tai nghe mắt thấy” . Nhưng quả thực chưa có được! Các thế hệ tương lai liệu có vì thế mà lãng quên những giá trị thiêng liêng của Tử Trầm Sơn? Động Long Tiên kỳ thú, chùa Trầm, chùa Vi Vu, chùa Ba Làng, chùa Quan m rồi cả chùa Trăm Gian gần đó; Hay núi Bút, núi Cung… đầy huyền thoại liệu có vì sự “chậm trễ” của người đời mà nhạt phai mất phần nào kinh sử, dấu ấn xa xưa? Những nỗi long trăn trở của bao người dân quê tôi chắc hẳn là nét đẹp của lòng người, của tình đời sâu nặng. Và, cùng với ý thức của một người dân nơi đây, hy vọng rằng trong một tương lai gần, Tử Trầm Sơn sẽ được đầu tư tương xứng cả về vật chất và tinh thần, để khu di tích ngày càng xứng đáng với tầm vóc của mình trong thời đất nước đổi mới, phát triển. Nhưng…
Xin bạn chớ nản long, chỉ cách Hà Nội hơn 20km về phía Tây với con đường quốc lộ số 6 phẳng lì, rộng rãi, Tử Trầm Sơn (thuộc xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Tây) vẫn luôn là địa chỉ đáng yêu của bao người muốn gắn mình với phong cảnh thiên nhiên hào phóng, diệu kỳ cùng những “dấu ấn” dễ làm say đắm long người yêu lịch sử.
Đặng Đình Chấn – Tuần Du lịch – Số 39(91) 27/9 -4/10/1999

Khách du lịch đến Động Phong Nha tăng nhanh

Mùa hè năm nay, lượng khách du lịch đến tham quan Động Phong Nha (Quảng Bình) tăng nhanh so với cùng kỳ năm trước. Tính đến hết tháng 6/1999 đã có 35.488 lượt khách, tăng 53% so với 6 tháng đầu năm 1998. Những ngày cao điểm có trên 2.200 lượt người, chủ yếu tập trung vào các ngày nghỉ lễ cuối tuần và các ngày lễ. Hầu hết các khách sạn trong tỉnh đã sử dụng hết công suất buồng, giường nhưng nhiều lúc vẫn không đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách. Để thu hút khách du lịch, những năm lại đây tỉnh chú trọng đến sự phát triển của ngành du lịch và coi đây là một ngành kinh tế quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng “Mở rộng và phát triển Du lịch – Dịch vụ”. Đã đầu tư hàng chục tỷ đồng xây dựng hạ tầng cơ sở khu du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng gồm 30 km đường rải nhựa, hệ thống điện chiếu sáng, đèn màu, đường đi lối lại ở Động Phong Nha và xây dựng khu nghỉ mát ở bãi biển Nhật Lệ; Bảo đảm an ninh trật tự, mở rộng các loại hình dịch vụ phụ trợ khác….tạo sự an toàn, thuận tiện và cảm giác thoải mái cho du khách.
Hiện nay tỉnh đang khẩn trương hoàn thiện khu nhà thờ và đón khách trước cửa Động Phong Nha kịp đưa vào sử dụng trong thời gian tới. Đồng thời tiếp tục đầu tư mở tuyến du lịch mới Hang Khô cách Động Phong Nha 300m về phía Tây, dự kiến sẽ đưa vào khai thác phục vụ du khách trong mùa du lịch năm 2000 sắp tới.
Lào Cai: công ty nước ngoài Thiên Thành đầu tư vào khu du lịch Đền Thượng
Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai đã cấp giấy phép đầu tư nước ngoài số 01/1999-GPĐTNN-UB cho phép công ty Thiên Thành – Trung Việt thực hiện dự án đầu tư: Xây dựng khu du lịch Đền Thượng (Thuộc khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai). Với tổng số vốn đầu tư 5.000.000 USD và thời hạn hoạt động 50 năm, công ty dự kiến đầu tư vào khu du lịch Đền Thượng với các hạng mục công trình như: khách sạn, biệt thự, công viên, chợ thương mại, khu vui chơi giải trí….phục vụ khách du lịch. Công ty thương mại và du lịch Thiên Thành – Trung Việt, thuộc tập đoàn công ty thương mại – du lịch Hằng Sinh (Hồng Công – Trung Quốc) là công ty đầu tiên của nước ngoài đầu tư vào khu vực cửa khẩu quốc tế Lào Cai, kể từ khi có quyết định 100/1998/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Đà Nẵng: Du lịch đường biển phát triển khá
Du lịch đường biển của Đà Nẵng tiếp tục tăng trưởng. 6 tháng đầu năm 1999, ngành du lịch Đà Nẵng đã đón 19 lượt tàu biển cập cảng với 13.500 khách du lịch và thuyền viên. Trong đó, khách du lịch thuần túy có 6.949 lượt khách. Các nước có khách du lịch đến Đà Nẵng nhiều là Đức (31,3%), Mỹ (27,1%), Anh(1,2%)….Các công ty như Công ty du lịch Việt Nam tại Đà Nẵng, Công ty du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng, công ty Đông Á (chi nhánh Đà Nẵng), Công ty dịch vụ – du lịch Đà Nẵng…đã tổ chức tốt việc đưa đón, phục vụ khách du lịch đường biển, tạo được uy tín với du khách.
Đính chính
Trong tin “Du lịch bằng xe đạp – tour mới dành cho khách Trung Quốc” đăng trên trang 3 Báo Tuần Du Lịch số 27(79) ra gày 5/7/1999 do sơ suất đã để sót lỗi mo-rát. Nay xin đọc lại là: “Cục Du lịch Nam Ninh (Trung Quốc) đã phối hợp với Tổng công ty Du lịch Thành phố Hồ Chí Minh…”. Thành thật xin lỗi tác giả và bạn đọc.
Lê Thanh Bình – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Gấp rút chuẩn bị khởi công xây dựng làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Ngày 7/8, Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm đã triệu tập cán bộ, ngành có liên quan đến việc xây dựng Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam về Văn phòng Chính phủ để họp bàn về tiến trình chuẩn bị cho việc khởi công xây dựng dự án theo đúng dự định vào ngày quốc khánh 2/9 tới.
Đây là dự án văn hóa lớn nhất Việt Nam, dự định xây trên diện tích 800 ha tại Đồng Mô (Hà Tây) cách Hà Nội 60 km, Làng sẽ tái tạo lại nền văn hóa của 19 dân tộc tiêu biểu của Việt Nam.
Tại cuộc họp Phó Thủ tướng đã thông báo: Chính phủ trước mắt sẽ cung cấp 10 tỉ đồng và sẽ còn tiếp tục rót kinh phí cho dự án.
Tổng chi phí xây dựng dự án ước tính khoảng 600 triệu đô la Mỹ.
Theo kế hoạch tổng thể, bộ Xây dựng có trách nhiệm giúp Chính phủ kiểm định qui hoạch chi tiết, Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm rà soát bom mìn, Bộ Nông nghiệp và PTNT soạn thảo kế hoạch trồng cây quanh Làng và cùng với Tổng công ty điện lực Việt Nam xây dựng hệ thống cấp thoát nước và lưới điện, còn Bộ Giao thông vận tải sẽ lên kế hoạch xây dựng hệ thống giao thông tiếp cận làng.
Tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin Nguyễn Khoa Điềm đã báo cáo về tiến trình chuẩn bị cho lễ khởi công. Bộ Văn hóa – Thông tin có trách nhiệm phụ trách, theo dõi tiến trình dự án.
Đà Nẵng: Hoàn thành việc mở rộng không gian du lịch Bà Nà giai đoạn I
Với tổng diện tích mặt bằng tại khu du lịch Bà Nà không lớn lắm, việc mở rộng không gian du lịch Bà Nà là vô cùng cần thiết để khai thác tiềm năng du lịch tại khu du lịch hấp dẫn này. Sau khi có chủ trương của UBND thành phố Đà Nẵng, Sở Du lịch TP Đà Nẵng đã triển khai thực hiện việc phát tuyến mở đường đi bộ đến các điểm tham quan và các biệt thự cũ của Pháp. Trong thời gian ngắn 2 tháng thực hiện, đã hợp đồng thuê 50 nhân công tiến hành phát tuyến, mở con đường đi bộ dẫn đến các điểm tham quan như Suối Nai, Suối tiên, thác Cầu Vồng, Suối Lạnh… và đường đến các biệt thự cũ, dựng các cầu nhỏ bằng gỗ, mây các nhà tạm nghỉ chân dọc đường… Đặc biệt tại các nền biệt thự cũ đã tiến hành phát quan lau, sậy, chỉ để lại các cây địa lan làm tăng thêm vẻ đẹp cảnh quan. Đến nay đã hoàn thành giai đoạn I công việc phát tuyến và đã được các ngành chức năng tiến hành nghiệm thu công trình. Giờ đây, từ bãi đậu xe trên đỉnh Bà Nà, du khách có thể theo các con đường mòn có các bậc thang bằng cây dẫn đến các điểm tham quan hấp dẫn, giữa cảnh núi rừng thơ mộng và thời tiết mát mẻ, dễ chịu của Bà Nà.
Được biết, ngày 10 – 8 – 1999 Ban quản lý các dự án ODA Quảng Nam cũng đã tổ chức lễ đóng điện công trình đưa điện lưới quốc gia lên khu du lịch Bà Nà – Suối Mơ.
Ngô Thị Hoàng Anh-Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-34(86)-1999

Chắp cánh ước mơ

Làng Bá Dương (xã Hồng Hà – Đan Phượng – Hà Tây) nằm bên con sông Nhị Hà. Từ xửa từ xưa, lũ trẻ chăn trâu thường ra bãi bồi của con sông, chơi các trò chơi dân gian như đánh khăng, đánh đáo… Một ngày kia, đứa trẻ lớn nhất trong bọn đã chán những trò chơi cũ. Nó ngồi dưới gốc cây và mải ngắm nhìn những cánh chim tung cánh trên bầu trời. Nó đặc biệt chú ý tới con chim diều hâu đang lượn lờ. Và nó nghĩ ra trò chơi mới. Đó chính là trò thả diều. Từ phát kiến độc đáo của đứa trẻ, trò chơi thả diều được phổ biến rộng rãi trong làng và cả một số làng lân cận. Người lớn cũng ham mê trò chơi này nên hàng năm ở Bá Dương và nhiều nơi đã tổ chức lễ hội thi diều.
Trong lần về dự hội thi diều ở làng Bá Dương năm nay, tôi đã được chứng kiến cuộc thi của hơn 40 con diều từ 5 tỉnh tham dự. Vĩnh Phúc, Thừa Thiên-Huế, Hà Tây, Hải Dương và Thái Bình. Diều của tỉnh Hải Dương khác biệt với đôi cánh cắt dài, nhọn, khi bay đâm thẳng lên trời bởi độ cân gần như tuyệt đối. Loại diều này có khả năng bay rất cao. Theo nghệ nhân Nguyễn Đức Nhung, người đã 60 năm chơi diều ở Hải Dương, những hôm trời nhiều mây, diều không mang sáo có thể bay cao đến mức không còn nhìn thấy vì bị mây che khuất.Diều Hải Dương còn đặc sắc ở chỗ vẫn giữ cung cách truyền thống, hoàn toàn sử dụng dây tre. Loại dây toàn cật tre này làm khá công phu và phải luộc muối 8 tiếng đồng hồ. Hiện nay, hầu hết những người chơi diều đều thay thế bằng dây ni-lông, vừa nhẹ vừa tiện lợi. Diều của tỉnh Thái Bình lại khác biệt cả về khung và sáo. Con diều dự thi dài tới 4,26m và được truyền lại đã 3 đời. Khung diều gồm 2 thanh ngang và một thanh cái (các diều khác sử dụng 4 thanh). Chiếc sáo lớn được làm bằng tôn nên tiếng kêu có phần rộn ràng, thanh thoát hơn sáo trúc, hoà hợp rất ăn ý với âm thanh của cây sáo lớn. Diều Huế mang nét riêng của kinh đô xưa với những hình tượng chim lạc hồng, chim én, cá vàng, bươm bướm… Diều của Vĩnh Phúc và Hà Tây nhìn chung không có điểm khác biệt lớn. Đây là loại diều cánh bầu (đầu cánh tròn) và thường mang từ 2-5 sáo. Các sáo diều được sắp xếp theo thứ tự to xuống nhỏ. Tiếng sáo có nhiều loại. Tiếng chiêng, tiếng ốc… và kêu theo kiểu “Mẹ gọi con thưa”, có nghĩa là sáo lớn kêu to, trầm, sáo nhỏ lảnh lót kêu theo hưởng ứng, tạo thành bản hoà tấu rộn ràng giữa không trung.
Theo qui định, sải cánh của diều thi ngắn nhất là 2,2m và phải mang được từ 2 sáo trở lên. Tiêu chuẩn bình chọn và cho điểm được đánh giá qua hai bước – sơ và chung khảo – theo các tiêu chuản về độ cao, độ đứng, âm thanh của sáo. Ngoài những tiêu chuẩn này, ban giám khảo cho điểm khuyến khích về kích thước và số lượng sáo: tư thế, tác phong, trang phục của chủ diều.
Cánh diều tượng trưng cho mơ ước giải phóng. Đặc biệt với người nông dân, cánh diều gắn bó mật thiết với cuộc sống từ bao đời. Sau mỗi buổi ra đồng mệt nhọc ngồi dưới bóng mát của bụi tre đầu làng, lắng nghe âm thanh vi vu của sáo diều, phóng tầm mắt dõi theo cánh diều chấp chới giữa không trung, đã trở thành thú chơi tao nhã của họ, Đối với các bạn học sinh, sinh viên, tuổi thơ của họ là cánh đồng làng, với luỹ tre xanh và những cánh diều. Những cánh diều trong ký ức tuổi thơ theo họ trong suốt quá trình học tập và công tác, trong cả cuộc đời. Họ mong mỏi diều bay lên, bay lên cao mãi, chắp cánh cho những ước mơ giản dị đời thường.
Phạm Huy Quân – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Mùa thi đại học 1999 dưới mắt một “Sĩ tử” – “Sợ nhất là thiếu công bằng”

Trên đường vào khu ký túc xá trường đại học Văn hóa Hà Nội, tình cờ gặp một chàng trai dáng người vừa phải, da ngăm đen, tay ôm sách vở đi ngược chiều, đoán đó là một sĩ tử đến từ xứ Nghệ, tôi đã làm quen. Chúng tôi vừa uống sấu đá vừa trò chuyện. Có lẽ, trong lúc này, các thí sinh khác cũng đang hồi hộp, vừa tự tin vừa lo ngại như Hoàng Minh Chương…
Phóng viên: Chương quê ở đâu, sao lại thi vào khoa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội?
Hoàng Minh Chương: Em là học sinh trường PTTH thị xã Cửa Lò. Quê em là vùng du lịch, cứ vào dịp hè như thế này có rất đông du khách đến nghỉ ngơi và tắm biển. Nhà em có 4 người, hiện sống bằng nghề làm dịch vụ du lịch như bán và cho thuê áo tắm, phao bơi, dịch vụ điện thoại, bán bia, rượu và nước giải khát….tóm lại là những gì du khách cần. Anh đã đến Cửa Lò chưa? Bãi biển quê em rất đẹp, nước trong xanh, cát mịn êm và sạch. Em rất yêu thị xã bé nhỏ quê em. Cửa Lò là thị xã mới phát triển, có tiềm năng du lịch, nhưng chưa có hướng dẫn viên du lịch tại chỗ. Em thi vào khoa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội bởi lẽ mê ngành Du lịch và muốn được nhà trường đào tạo để sau này về làm việc tại quê nhà. Em muốn du khách hiểu hơn về Cửa Lò, có ấn tượng đẹp về Cửa Lò.
Phóng viên: Mê ngành Du lịch, Chương hiểu ngành Du lịch hiện nay như thế nào?
Hoàng Minh Chương: Thật sự là em yêu ngành Du lịch, nhưng chưa hiểu được là bao về ngành này. Theo em thì Du lịch Việt Nam rất giàu tiềm năng nhưng chưa có sự phát triển tương xứng, phát triển rất khó khăn. Chẳng hạn như Cửa Lò quê em có bãi biển đẹp, là cầu nối hai miền Nam Bắc. Vậy mà cơ sở vật chất ở đây còn quá thiếu thốn, người dân hiền lành nhưng ý thức giữ gìn môi trường trong sạch chưa cao.
Phóng viên: Chương ra Hà Nội lâu chưa, gia đình cung cấp bao nhiêu cho đợt đi thi này?
Hoàng Minh Chương: Em có mặt ở Hà Nội đã hơn một tháng nay, thời gian này chủ yếu để học ôn thi. Em ôn thi do một số thầy cô dạy. Tiền đóng ôn thi một tháng 7 ngày là 480.000đ, tàu xe, ăn ở, đi lại…nữa chắc sẽ hết cỡ 1 triệu.
Phóng viên: Học lực của em ra sao? Em có ngại khi phải đối chọi với rất nhiều thí sinh ở thành phố có điều kiện ăn học?
Hoàng Minh Chương: Học lực em cũng tàm tạm. Em sinh ra ở xứ Nghệ nên có lẽ cũng được thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của đất học, đất của những cụ đồ xứ Nghệ. Tại lớp ôn thi vào đại học mà em vừa theo học, lớp có 40 người thì có tới 90% là các bạn ở Hà Nội. Được học với họ, xem ra trình độ kiến thức của họ cũng không làm cho em đáng ngại lắm. Điều em lo sợ nhất là thiếu công bằng trong thi cử, bởi vì theo dư luận thì không phải đâu cũng thế, nhưng ở nước ta vẫn còn tiêu cực trong thi cử và tuyển sinh, không ít người vẫn tìm cách chạy chọt cho con em mình vào đại học. Tuy nhiên, em vẫn tin là một ngày gần đây, hiện tượng trở thành sinh viên bằng con đường “cửa hậu” như vậy sẽ hoàn hoàn được chấm dứt.
Phóng viên: Trong những ngày ở Hà Nội, Chương đã có dịp dạo phố chưa?
Hoàng Minh Chương: Hà Nội rất đẹp, là một thành phố đã có gần nghìn tuổi mà vẫn rất trẻ. Em có cảm nhận như vậy, rất muốn dạo phố, nhưng với em bây giờ, thời gian là của một thí sinh chứ chưa phải là của một du khách.
Phóng viên: Xin cảm ơn và chúc em dành được kết quả cao trong kỳ thi đầy khó khăn này.
Trường Đinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

GMT giải mã từ Tut it be sun – Bàn về cách giao tiếp

Ông khách người Nam Mỹ bước vào khách sạn với khuôn mặt rạng rỡ và hồ hởi. Ông quan sát nhanh tiền sảnh sang trọng, và bước tới bàn tiếp tân, giọng ông đầy thân ái:
Chào cô, xin cô cho tôi đặt buồng ở khách sạn!
Cô gái đang lúi húi lục đống giấy tờ, không ngẩng mặt lên, vội nói:
Ông chờ một tí.
Ông khách đứng chờ một lúc, sốt ruột hỏi:
Cô tìm gì mà lâu vậy? Xin lỗi cô, tôi đang rất vội.
Cô gái hình như tìm không ra tờ hoá đơn trong đống giấy lộn xộn, bực dọc nói:
Ông chờ một phút nữa có được không?
Ông khách cúi xuống xách chiếc cặp đen và lùi lại phía sau. Ông cảm thấy cô tiếp tân không thông cảm với sự sốt ruột của mình và thiếu thái độ chân thành. Nghe tiếng động, cô gái ngẩng đầu lên nhìn khách và nói:
Xin lỗi ông, tôi bận quá.
Ông khách lạnh lùng nói, âm thanh rít qua kẽ răng:
Tut it be sun
Rồi quay lưng đi ra khỏi khách sạn.
Cô gái ngỡ ngàng, không hiểu ông khách nói gì, một chút ân hận và ái ngại tràn ngập trong cô và Tut it be sun là gì nhỉ? Đêm ấy cô lễ tân đã mất ngủ, câu nói của ông khách Nam Mỹ chợt hiện về nhắc nhở, và cô nghĩ phải chăng đó chỉ là một câu cảm thán của ông vì sự chậm trễ của mình trong cách phục vụ: Rõ khỉ, thời gian bị thiêu hủy. Hay đó là một lời khuyên: Thôi đi, nghề cô cần sự ấm áp… và cô gái thiếp đi trong sự ân hận.
Hôm sau, cô lễ tân vào ca trực.
Cô đang ngồi ghi sổ thì một người khách bước vào. Cô vội vàng đứng dậy, duyên dáng, vuốt lại tóc. Khi khách đến quầy tiếp tân, cô nghiêng người hướng về phía khách, nụ cười tươi tắn, giọng nói ngọt ngào:
Xin chào ông, khách sạn có thể giúp được gì cho ông ạ?
Chào cô, tôi cần 1 buồng hạng nhất.
Dạ, khách sạn có buồng hạng nhất ở tầng 1, 2, 3, 4. Ông muốn nhìn ra phố hay ra biển?
Buồng tầng 2 nhìn ra biển.
Ông khách vừa nói, vừa đặt Passport lên quầy. Cô gái liếc nhanh tên ông trên Passport.
Thưa ông Henry Adams, chúng tôi xin phục vụ đầy đủ mọi yêu cầu của ông. Đây là chìa khoá phòng 202, phòng có ban công hướng ra biển, sẽ có nhân viên đưa hành lý của ông lên tận phòng. Có gì cần ông có thể gọi điện thoại cho lễ tân. Chúc ông mọi điều tốt lành!
Ông khách cảm thấy thật thoải mái với sự giải quyết nhanh nhẹn, thái độ niềm nở, ân cần, chu đáo và vui vẻ của cô tiếp tân, đặc biệt là nụ cười của cô gái thật ấm áp và trìu mến.
Sự thành đạt trong phong cách phục vụ chính là ở chỗ từ một lời khuyên cô lễ tân đã suy nghĩ và tim ra cho mình những cách cư xử tốt đẹp, suy nghĩ và hành vi của cô biểu hiện theo sáu bước:
Nhanh chóng, không làm mất thời gian của khách (Time)
Giọng nói êm ái, dịu dàng (Use Tone of Voice)
Thể hiện sự tin cậy (Inspire Trust)
Có sự đồng cảm với khách (Be Empathetic)
Nụ cười luôn nở trên môi (Smile)
Xưng hô tên của khách (Use the tourist’s Name)
Viết tắt các bước trên bằng các chữ đầu của tiếng Anh là: Tut it be sun, ý nghĩa của câu cảm thán này có tính nhắc nhở, rất bổ ích trong giao tiếp với khách du lịch.
Đàm Viết Lọc – Tuần Du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Nhật Bản đã làm dấy lên cơn sốt đi nghỉ tại các vùng núi cao mát mẻ

Lào – Thái Lan: Ngày 29/7, tại Savannakheth, Lào, Thái Lan và tổ chức JICA (Nhật Bản) đã ký hiệp định chung về việc xây dựng chiếc cầu hữu nghị Lào – Thái số 2 bắc qua sông Mekong tại tỉnh Savannakheth (Trung Lào).
Theo thiết kế, cầu rộng 13 mét, không có đường tàu hỏa, dài 1.600 mét – nếu tính cả cầu dẫn phía Lào dài 200 mét, phía Thái Lan dài 250 mét thì tổng chiều dài của cầu là 2.050 mét. Với tổng số vốn xây dựng là 8 tỷ yên Nhật do tổ chức JICA của Nhật Bản cho vay, trong đó Lào và Thái Lan mỗi bên vay một nữa (4 tỷ yên).
Trung Quốc: Do sự phát triển kinh tế, nhu cầu đi lại cũng như mức tăng dân số, nên tàu điện ngầm (MTR) là một công cụ giao thông quan trọng đối với các thành phố lớn ở Trung Quốc. Hiện nay 4 thành phố là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân và Quảng Châu có tàu điện ngầm với tổng số chiều dài là 90 km và 600 tàu. Mới đây, chính phủ Trung Quốc phê chuẩn cho Nam Kinh xây tàu điện ngầm. 15 thành phố khác cũng xin xây dựng tàu điện ngầm, tính ra tổng đầu tư tới 140 tỉ NDT.
Tổng cục du lịch Trung Quốc cho biết trong nửa đầu năm nay có 35 triệu lượt người đến thăm Trung Quốc lục địa, trong đó c1o 30 triệ người đến từ Hồng Không và Ma Cau, thu về 6,9 tỷ USD. Trong nửa đầu 1999, ngành du lịch Trung quốc đã ký Hiệp định hợp tác du lịch với Việt Nam, Myanmar và Campuchia.
Nhật Bản: Đợt nắng nóng kéo dài gần một tháng nay tại Nhật Bản đã làm dấy lên cơn sốt đi nghỉ tại các vùng núi cao mát mẻ, các vùng biển và các hồ bơi tại các thành phố lớn. Chỉ tính riêng tháng 7, có 5 triệu người Nhật đi nghỉ mát. Các hãng du lịch phải huy động hết công suất làm việc, tuyển thêm thợ hợp đồng và tăng tiền thưởng cho tình nguyện làm thêm giờ. Kéo theo nó là việc gia tăng tiêu thụ các mặt hàng “chống nóng”: trong tháng 7 số máy điều hòa nhiệt độ bán ra cao gấp hơn hai lần tháng trước và cùng tháng này năm trước; bia Asahi, loại bia được ưa chuộng nhất ở Nhật đoạt doanh số cao nhất trong lịch sử của hãng này.
Malaysia: Bộ trưởng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Malaysia, Abdul Sheikh Fadzir cho biết chính phủ Malaysia có chương trình kích thích du lịch nội địa thông qua việc giảm thuế cho các hãng du lịch và hỗ trợ phát triển các điểm du lịch trong nước kết hợp với việc quảng bá du lịch nội địa thay vì du lịch ra nước ngoài. Chương trình này sẽ chính thức được phát động vào ngày 25/9/1999 bằng hoạt động mang tính hoành tráng dưới chủ đề “Màu sắc Malaysia” (Colors of Malaysia) tại thủ đô Kuala Lumpur.
Australia: Ngày 7-8, Bộ trưởng nhập cư Australia cho biết kể từ ngày 1-7-1999, Hồng Kông và Đài Loan đã được đưa vào danh sách 29 nước và lãnh thổ được cấp thị thực du lịch qua mạng máy tính. Theo đó, du khách Hồng Kông và Đài Loan vào Australia có thể được cấp thị thực ngay tại chỗ khi du khách mua vé vào Australia. Đây là một hệ thống có tính tương hỗ vì du khách Australia và lãnh thổ trên cũng sẽ được biệt đãi một cách tương tự.
N.C-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Lãnh đạo Tổng cục du lịch tiếp Phó Chủ tịch Quốc hội Inđônêxia

Ngày 6/7/1999 tại Hà Nội, thay mặt lãnh đạo Tổng cục Du lịch, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã tiếp bà Fatimah Achmad, Phó Chủ tịch Quốc hội nước cộng hòa Inđônêxia đang ở thăm và làm việc tại Việt Nam.Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã thông báo với bà Fatimah Achmad và các vị cùng đi một số nét về tình hình phát triển của Du lịch Việt Nam trong những năm qua, đồng thời nêu rõ chủ trương coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển Du lịch vào những năm tới.
Bà Fatimah Achmad đánh giá cao tiềm năng và sự phát triển nhanh chóng của ngành Du lịch Việt Nam; khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Inđônêxia trong mối quan hệ hợp tác phát triển Du lịch giữa hai nước Việt Nam và Inđônêxia.
Tại buổi tiếp hai bên đã trao đổi một số kinh nghiệm quản lý, khai thác vốn đầu tư phát triển Du lịch…., đồng thời mong muốn Chính phủ hai nước sớm có sự thỏa thuận song phương về việc miễn thị thực xuất nhập cảnh cho khách du lịch hai nước qua lại lẫn nhau trong tương lai.
Thành lập hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn
Ngày 2/7/1999 Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã ký quyết định số 198/1999/QĐ-TCDL thành lập Hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 6 thành viên do Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tín làm Chủ tịch. Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định để tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch việc xếp hạng khách sạn trong phạm vị cả nước. Hoạt động của Hội đồng thực hiện theo Quy chế làm việc do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt. Quyết định này thay thế cho Quyết định số 35/TCDL ngày 5-3-1994 của Tổng cục Du lịch và có hiệu lực thi hành kể từ 17-7-1999.
Thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng vừa ký Quyết định số 199/1999/QĐ-TCDL (ngày 2-7-1999) về việc thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 12 thành viên. Phó Giáo sư – Phó Tiến sĩ Vũ Tuấn Cảnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch về các vấn đề khoa học – công nghệ – môi trường liên quan đến các hoạt động của Tổng cục Du lịch. Hoạt động của Hội đồng tiến hành theo Quy chế do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt .
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 17-7-1999 và thay cho những Quyết định truớc đây về vấn đề này.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đến sớm vài ngày

Một ông khách ngồi ăn trong một nhà hàng, khảng khái nói với chủ quán:
“Nếu mà biết thức ăn như thế này, đến ăn sớm vài ngày trước thì hay quá”.
Chủ quán nghe xong rất dỗi vui mừng: “Cám ơn sự khen ngợi của ngài, xin cảm ơn”.
Ông khách vội nói: “Ý của tôi là, cá và thịt này nếu ăn sớm vài ngày trước… thì đỡ bốc múi”.
Lễ phục cưới
Thợ may: Anh may bộ complê này có yêu cầu gì đặc biệt không?
Khách hàng: Chỉ mong bác làm cẩn thận, đây là lễ phục cưới của tôi.
Thợ may: Vậy tốt nhất là thay đổi một chút ở thiết kế, bởi vì bộ complê này nên may thêm túi kín để cô vợ tương lai không tìm thấy.
Thanh Hương
Thơ châm
“Yêng hùng” kiểu ấy…
Tới cuối phố tôi, bóng xế tà
Gặp mấy “cậu ấm” phóng hon-da
Ôm eo mỗi cậu… Kìa đôi thiếp!
Đèo ba, “đánh võng”… Chịu mấy bà!
Bia ngấm, tình say, lao bạt mạng
Dành đường. vượt ẩu, thả “mát ga”
Trổ tài phô diễn… Khỏe người đẹp
“Yêng hùng” kiểu ấy… dễ thành ma!
Vũ Ba Lan (Nghệ An)
3.Cầu Trường Tiền tròn 100 năm (1899 – 1999)
Chiếc lược ngà xứ Huế
Cùng với Sông Hương, núi Ngự, Linh Mụ… Cầu Trường Tiền là một trong những biểu tượng của Huế. Qua thời gian và những biến động của lịch sử – xã hội, chiếc cầu luôn gắn bó với đời sống của người dân Huế, luôn giữ cho mình nét riêng điểm tô cho vẻ đẹp của Huế. Trường Tiền từng đi vào dân gian Huế bằng những ca:
“Cầu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp
Anh qua chưa kịp em biết về noi mô”.
Có lẽ từ khi chiếc cầu gỗ được bắc qua sông Hương êm ả trong xanh kia, khi mà đôi bờ được nối liền không còn độ giang cách trở, và có lẽ cũng từ đó mà cầu Trường Tiền, cùng Thiên Mụ, trở thành hình ảnh đẹp khắc sâu vào ký ức của con người xứ Huế và du khách thập phương.
Được xây dựng từ năm Thành Thái thứ 9 (1897), 2 năm sau (tức năm 1899) chiếc cầu được hoàn tất với tên gọi là Cầu Thành Thái. Kiến trúc, xây dựng cầu do hãng Eiffel (Pháp) thi công. Khác với nhiều chiếc cầu khác được xây dựng trên đất nước Việt Nam, Trường Tiền có dáng dấp mềm mại, uyển chuyển với 6 vài, 12 nhịp thanh thoát bắc qua dòng Hương Giang xanh trong mượt mà như suối tóc dài của thiếu nữ Huế. Có lẽ chính vậy mà Trường Tiền được ví như một chiếc lược ngà. Khi mới xây dựng cầu có chiều dài 401m, bề ngang lòng cầu 6m20, mặt cầu lát bằng gỗ lim, chưa có lề cầu hai bên. Đến trận bão năm Thìn (1904) quét qua xứ Huế, Trường Tiền bị hư hỏng nặng. Hai năm sau (1906) cầu được tu sủa lại và lòng cầu đúc bằng bê tông. Đến năm 1937 cầu được đại trùng tu và mở thêm hai hành lang bên dành cho khách bộ hành và những phương tiện nhỏ như xích lô, xe đạp… với những lan can dạng vòm được mở rộng ở 5 trụ cầu giữa hai vài. Đây là một kiến trúc độc đáo có tính văn hóa nghệ thuật và tính khoa học cao.
Cầu Trường Tiền có nhiều tên gọi khác nhau như Thành Thái (1899 – 1907) rồi Clemenceau (1914 – 1918) tên Thủ tướng Pháp do Chính quyền Thực dân Pháp tại Huế đổi. Đến 1945 tên cầu được đổi thành Cầu Nguyễn Hoàng. Dù với tên Ta, tên Tây, người dân Huế vẫn quen gọi bằng tên dễ nhớ, dễ hiểu là Trường Tiền. Vì vào thời nhà Nguyễn có mở một công trường đúc tiền bên tả ngạn cầu mà người dân thường gọi tắt là Trường Tiền.
Trường Tiền cũng đã ghi những dấu ấn lịch sử của Huế bằng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Cùng với người dân Huế, cầu cũng chịu chung sự đau thương, mất mát. Trong kháng chiến chống Pháp cầu bị sập hi vài phía tả ngạn (1946), đến năm Mậu Thân (1968) cầu lại bị chiến tranh làm sập một lần nữa hai vài bên hữu chúi xuống sống, 4 vài khác bị hư hỏng nặng, 6 vài chỉ còn 5, còn 1 vài thay thế bằng vài gỗ. Cho đến năm 1990 Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ra quyết định về sửa chữa khôi phục cầu, một lần nữa cầu Trường Tiền được tái sinh vào ngày 19/5/1999. Tuy không được giữ nguyên như xưa, nhưng Trường Tiền vẫn giữ được nét duyên riêng của mình, vẫn là chiếc lược ngày ấy luôn chải cho dòng tóc Hương Giang mượt mà, mềm mại.
Nguyên Phương – Tuần Du lịch – 1999

Nước khoáng nước nóng “Một tiềm năng của ngành công nghiệp không khói”

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Việt Nam, các Viện Pasteur, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tế Trung ương, trường Đại học Dược khoa Hà Nội, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, trường Đại học Mỏ Địa chất… và việc ứng dụng trên thực tế của nhân dân thì ngoài việc được đóng chai để làm nước giải khác, NKNN còn được khai thác để chữa các bệnh như cơ khớp, da liễu, đường ruột, hô hấp, thần kinh, tim mạch, sún răng, xốp xương, làm năng lượng để sấy chè tươi, thuốc lá, nuôi tôm càng xanh vào mùa đông… Chính vì có những công dụng như vậy nên NKNN luôn có sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và khách nước ngoài. Nhiều công ty du lịch trong nước đã coi NKNN như một tiềm năng to lớn đối với ngành công nghiệp ống khói.
Ông Phan Ngọc Cừ, chuyên viên cao cấp (Văn phòng Chính phủ), một chuyên gia về NKNN, cho biết hiện cả nước có trên 300 nguồn NKNN, trong đó có khoảng trên 30 nguồn chiếm 10% đã và đang được khai thác với nhiều mục đích khác nhau. Một số nguồn được khai thác để đóng chai làm nước giải khác với số lượng lớn như nguồn Thanh tân (Thừa Thiên – Huế) với sản lượng từ 700.000 đến 1 triệu lít / năm, nguồn Kỳ Quế (Quảng Nam) với sản lượng 2,5 triệu lít / năm, nguồn Vĩnh Hảo (Bình Thuận) với sản lượng gần 19 triệu lít / năm, đặc biệt như nguồn Đảnh Thạch (Khánh Hòa) có sản lượng lên tới 40 triệu lít / năm. Nguồn Mớ Đá (Kim Bôi, Hòa Bình) được Nhà nghỉ Công đoàn tỉnh khai thác làm nơi điều dưỡng với hàng trăm giường bệnh, thu hút mỗi năm từ 7 nghìn đến 10 nghìn lượt khách. Nguồn Mỹ Lâm (Tuyên Quang) cũng khai thác NKNN để làm nơi điều dưỡn, chữa bệnh cho hàng ngàn lượt bệnh nhân/ năm. Nguồn Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu) từ năm 1989 lại đây, Công ty Du lịch của tỉnh đã xây dựng tại đây một trung tâm Du lịch kết hợp tằm ngâm chữa bệnh, hằng năm thu hút hàng vạn lượt khách… NKNN dùng làm nước giải khát để uống rất vệ sinh. Du khách đến các nguồn NKNN không chỉ để biết thêm một vùng đất lạ mà còn được tắm, thậm chí chữa hết một số bệnh. Nhiều chuyên gia thuộc Hội Địa chất – Thủy văn Việt Nam cho rằng, với tiềm năng NKNN to lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành một nền công nghiệp khai thác tổng hợp NKNN với mục đích chữa bệnh, phục vụ du lịch, năng lượng và có thể xuất khẩu.
NKNN là một tiềm năng của du lịch Việt Nam, ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm khai thác tiềm năng này. Trước hết, các công ty lữ hành nên tìm hiểu, nghiên cứu đưa các nguồn NKNN thuận lợi vào chương trình tour của mình để phục vụ du khách.
Trường Định -Tuần Du lịch – 1999