Chắp cánh ước mơ

Làng Bá Dương (xã Hồng Hà – Đan Phượng – Hà Tây) nằm bên con sông Nhị Hà. Từ xửa từ xưa, lũ trẻ chăn trâu thường ra bãi bồi của con sông, chơi các trò chơi dân gian như đánh khăng, đánh đáo… Một ngày kia, đứa trẻ lớn nhất trong bọn đã chán những trò chơi cũ. Nó ngồi dưới gốc cây và mải ngắm nhìn những cánh chim tung cánh trên bầu trời. Nó đặc biệt chú ý tới con chim diều hâu đang lượn lờ. Và nó nghĩ ra trò chơi mới. Đó chính là trò thả diều. Từ phát kiến độc đáo của đứa trẻ, trò chơi thả diều được phổ biến rộng rãi trong làng và cả một số làng lân cận. Người lớn cũng ham mê trò chơi này nên hàng năm ở Bá Dương và nhiều nơi đã tổ chức lễ hội thi diều.
Trong lần về dự hội thi diều ở làng Bá Dương năm nay, tôi đã được chứng kiến cuộc thi của hơn 40 con diều từ 5 tỉnh tham dự. Vĩnh Phúc, Thừa Thiên-Huế, Hà Tây, Hải Dương và Thái Bình. Diều của tỉnh Hải Dương khác biệt với đôi cánh cắt dài, nhọn, khi bay đâm thẳng lên trời bởi độ cân gần như tuyệt đối. Loại diều này có khả năng bay rất cao. Theo nghệ nhân Nguyễn Đức Nhung, người đã 60 năm chơi diều ở Hải Dương, những hôm trời nhiều mây, diều không mang sáo có thể bay cao đến mức không còn nhìn thấy vì bị mây che khuất.Diều Hải Dương còn đặc sắc ở chỗ vẫn giữ cung cách truyền thống, hoàn toàn sử dụng dây tre. Loại dây toàn cật tre này làm khá công phu và phải luộc muối 8 tiếng đồng hồ. Hiện nay, hầu hết những người chơi diều đều thay thế bằng dây ni-lông, vừa nhẹ vừa tiện lợi. Diều của tỉnh Thái Bình lại khác biệt cả về khung và sáo. Con diều dự thi dài tới 4,26m và được truyền lại đã 3 đời. Khung diều gồm 2 thanh ngang và một thanh cái (các diều khác sử dụng 4 thanh). Chiếc sáo lớn được làm bằng tôn nên tiếng kêu có phần rộn ràng, thanh thoát hơn sáo trúc, hoà hợp rất ăn ý với âm thanh của cây sáo lớn. Diều Huế mang nét riêng của kinh đô xưa với những hình tượng chim lạc hồng, chim én, cá vàng, bươm bướm… Diều của Vĩnh Phúc và Hà Tây nhìn chung không có điểm khác biệt lớn. Đây là loại diều cánh bầu (đầu cánh tròn) và thường mang từ 2-5 sáo. Các sáo diều được sắp xếp theo thứ tự to xuống nhỏ. Tiếng sáo có nhiều loại. Tiếng chiêng, tiếng ốc… và kêu theo kiểu “Mẹ gọi con thưa”, có nghĩa là sáo lớn kêu to, trầm, sáo nhỏ lảnh lót kêu theo hưởng ứng, tạo thành bản hoà tấu rộn ràng giữa không trung.
Theo qui định, sải cánh của diều thi ngắn nhất là 2,2m và phải mang được từ 2 sáo trở lên. Tiêu chuẩn bình chọn và cho điểm được đánh giá qua hai bước – sơ và chung khảo – theo các tiêu chuản về độ cao, độ đứng, âm thanh của sáo. Ngoài những tiêu chuẩn này, ban giám khảo cho điểm khuyến khích về kích thước và số lượng sáo: tư thế, tác phong, trang phục của chủ diều.
Cánh diều tượng trưng cho mơ ước giải phóng. Đặc biệt với người nông dân, cánh diều gắn bó mật thiết với cuộc sống từ bao đời. Sau mỗi buổi ra đồng mệt nhọc ngồi dưới bóng mát của bụi tre đầu làng, lắng nghe âm thanh vi vu của sáo diều, phóng tầm mắt dõi theo cánh diều chấp chới giữa không trung, đã trở thành thú chơi tao nhã của họ, Đối với các bạn học sinh, sinh viên, tuổi thơ của họ là cánh đồng làng, với luỹ tre xanh và những cánh diều. Những cánh diều trong ký ức tuổi thơ theo họ trong suốt quá trình học tập và công tác, trong cả cuộc đời. Họ mong mỏi diều bay lên, bay lên cao mãi, chắp cánh cho những ước mơ giản dị đời thường.
Phạm Huy Quân – Tuần Du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Mùa thi đại học 1999 dưới mắt một “Sĩ tử” – “Sợ nhất là thiếu công bằng”

Trên đường vào khu ký túc xá trường đại học Văn hóa Hà Nội, tình cờ gặp một chàng trai dáng người vừa phải, da ngăm đen, tay ôm sách vở đi ngược chiều, đoán đó là một sĩ tử đến từ xứ Nghệ, tôi đã làm quen. Chúng tôi vừa uống sấu đá vừa trò chuyện. Có lẽ, trong lúc này, các thí sinh khác cũng đang hồi hộp, vừa tự tin vừa lo ngại như Hoàng Minh Chương…
Phóng viên: Chương quê ở đâu, sao lại thi vào khoa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội?
Hoàng Minh Chương: Em là học sinh trường PTTH thị xã Cửa Lò. Quê em là vùng du lịch, cứ vào dịp hè như thế này có rất đông du khách đến nghỉ ngơi và tắm biển. Nhà em có 4 người, hiện sống bằng nghề làm dịch vụ du lịch như bán và cho thuê áo tắm, phao bơi, dịch vụ điện thoại, bán bia, rượu và nước giải khát….tóm lại là những gì du khách cần. Anh đã đến Cửa Lò chưa? Bãi biển quê em rất đẹp, nước trong xanh, cát mịn êm và sạch. Em rất yêu thị xã bé nhỏ quê em. Cửa Lò là thị xã mới phát triển, có tiềm năng du lịch, nhưng chưa có hướng dẫn viên du lịch tại chỗ. Em thi vào khoa Du lịch, Đại học Văn hóa Hà Nội bởi lẽ mê ngành Du lịch và muốn được nhà trường đào tạo để sau này về làm việc tại quê nhà. Em muốn du khách hiểu hơn về Cửa Lò, có ấn tượng đẹp về Cửa Lò.
Phóng viên: Mê ngành Du lịch, Chương hiểu ngành Du lịch hiện nay như thế nào?
Hoàng Minh Chương: Thật sự là em yêu ngành Du lịch, nhưng chưa hiểu được là bao về ngành này. Theo em thì Du lịch Việt Nam rất giàu tiềm năng nhưng chưa có sự phát triển tương xứng, phát triển rất khó khăn. Chẳng hạn như Cửa Lò quê em có bãi biển đẹp, là cầu nối hai miền Nam Bắc. Vậy mà cơ sở vật chất ở đây còn quá thiếu thốn, người dân hiền lành nhưng ý thức giữ gìn môi trường trong sạch chưa cao.
Phóng viên: Chương ra Hà Nội lâu chưa, gia đình cung cấp bao nhiêu cho đợt đi thi này?
Hoàng Minh Chương: Em có mặt ở Hà Nội đã hơn một tháng nay, thời gian này chủ yếu để học ôn thi. Em ôn thi do một số thầy cô dạy. Tiền đóng ôn thi một tháng 7 ngày là 480.000đ, tàu xe, ăn ở, đi lại…nữa chắc sẽ hết cỡ 1 triệu.
Phóng viên: Học lực của em ra sao? Em có ngại khi phải đối chọi với rất nhiều thí sinh ở thành phố có điều kiện ăn học?
Hoàng Minh Chương: Học lực em cũng tàm tạm. Em sinh ra ở xứ Nghệ nên có lẽ cũng được thừa hưởng truyền thống tốt đẹp của đất học, đất của những cụ đồ xứ Nghệ. Tại lớp ôn thi vào đại học mà em vừa theo học, lớp có 40 người thì có tới 90% là các bạn ở Hà Nội. Được học với họ, xem ra trình độ kiến thức của họ cũng không làm cho em đáng ngại lắm. Điều em lo sợ nhất là thiếu công bằng trong thi cử, bởi vì theo dư luận thì không phải đâu cũng thế, nhưng ở nước ta vẫn còn tiêu cực trong thi cử và tuyển sinh, không ít người vẫn tìm cách chạy chọt cho con em mình vào đại học. Tuy nhiên, em vẫn tin là một ngày gần đây, hiện tượng trở thành sinh viên bằng con đường “cửa hậu” như vậy sẽ hoàn hoàn được chấm dứt.
Phóng viên: Trong những ngày ở Hà Nội, Chương đã có dịp dạo phố chưa?
Hoàng Minh Chương: Hà Nội rất đẹp, là một thành phố đã có gần nghìn tuổi mà vẫn rất trẻ. Em có cảm nhận như vậy, rất muốn dạo phố, nhưng với em bây giờ, thời gian là của một thí sinh chứ chưa phải là của một du khách.
Phóng viên: Xin cảm ơn và chúc em dành được kết quả cao trong kỳ thi đầy khó khăn này.
Trường Đinh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

GMT giải mã từ Tut it be sun – Bàn về cách giao tiếp

Ông khách người Nam Mỹ bước vào khách sạn với khuôn mặt rạng rỡ và hồ hởi. Ông quan sát nhanh tiền sảnh sang trọng, và bước tới bàn tiếp tân, giọng ông đầy thân ái:
Chào cô, xin cô cho tôi đặt buồng ở khách sạn!
Cô gái đang lúi húi lục đống giấy tờ, không ngẩng mặt lên, vội nói:
Ông chờ một tí.
Ông khách đứng chờ một lúc, sốt ruột hỏi:
Cô tìm gì mà lâu vậy? Xin lỗi cô, tôi đang rất vội.
Cô gái hình như tìm không ra tờ hoá đơn trong đống giấy lộn xộn, bực dọc nói:
Ông chờ một phút nữa có được không?
Ông khách cúi xuống xách chiếc cặp đen và lùi lại phía sau. Ông cảm thấy cô tiếp tân không thông cảm với sự sốt ruột của mình và thiếu thái độ chân thành. Nghe tiếng động, cô gái ngẩng đầu lên nhìn khách và nói:
Xin lỗi ông, tôi bận quá.
Ông khách lạnh lùng nói, âm thanh rít qua kẽ răng:
Tut it be sun
Rồi quay lưng đi ra khỏi khách sạn.
Cô gái ngỡ ngàng, không hiểu ông khách nói gì, một chút ân hận và ái ngại tràn ngập trong cô và Tut it be sun là gì nhỉ? Đêm ấy cô lễ tân đã mất ngủ, câu nói của ông khách Nam Mỹ chợt hiện về nhắc nhở, và cô nghĩ phải chăng đó chỉ là một câu cảm thán của ông vì sự chậm trễ của mình trong cách phục vụ: Rõ khỉ, thời gian bị thiêu hủy. Hay đó là một lời khuyên: Thôi đi, nghề cô cần sự ấm áp… và cô gái thiếp đi trong sự ân hận.
Hôm sau, cô lễ tân vào ca trực.
Cô đang ngồi ghi sổ thì một người khách bước vào. Cô vội vàng đứng dậy, duyên dáng, vuốt lại tóc. Khi khách đến quầy tiếp tân, cô nghiêng người hướng về phía khách, nụ cười tươi tắn, giọng nói ngọt ngào:
Xin chào ông, khách sạn có thể giúp được gì cho ông ạ?
Chào cô, tôi cần 1 buồng hạng nhất.
Dạ, khách sạn có buồng hạng nhất ở tầng 1, 2, 3, 4. Ông muốn nhìn ra phố hay ra biển?
Buồng tầng 2 nhìn ra biển.
Ông khách vừa nói, vừa đặt Passport lên quầy. Cô gái liếc nhanh tên ông trên Passport.
Thưa ông Henry Adams, chúng tôi xin phục vụ đầy đủ mọi yêu cầu của ông. Đây là chìa khoá phòng 202, phòng có ban công hướng ra biển, sẽ có nhân viên đưa hành lý của ông lên tận phòng. Có gì cần ông có thể gọi điện thoại cho lễ tân. Chúc ông mọi điều tốt lành!
Ông khách cảm thấy thật thoải mái với sự giải quyết nhanh nhẹn, thái độ niềm nở, ân cần, chu đáo và vui vẻ của cô tiếp tân, đặc biệt là nụ cười của cô gái thật ấm áp và trìu mến.
Sự thành đạt trong phong cách phục vụ chính là ở chỗ từ một lời khuyên cô lễ tân đã suy nghĩ và tim ra cho mình những cách cư xử tốt đẹp, suy nghĩ và hành vi của cô biểu hiện theo sáu bước:
Nhanh chóng, không làm mất thời gian của khách (Time)
Giọng nói êm ái, dịu dàng (Use Tone of Voice)
Thể hiện sự tin cậy (Inspire Trust)
Có sự đồng cảm với khách (Be Empathetic)
Nụ cười luôn nở trên môi (Smile)
Xưng hô tên của khách (Use the tourist’s Name)
Viết tắt các bước trên bằng các chữ đầu của tiếng Anh là: Tut it be sun, ý nghĩa của câu cảm thán này có tính nhắc nhở, rất bổ ích trong giao tiếp với khách du lịch.
Đàm Viết Lọc – Tuần Du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999

Nhật Bản đã làm dấy lên cơn sốt đi nghỉ tại các vùng núi cao mát mẻ

Lào – Thái Lan: Ngày 29/7, tại Savannakheth, Lào, Thái Lan và tổ chức JICA (Nhật Bản) đã ký hiệp định chung về việc xây dựng chiếc cầu hữu nghị Lào – Thái số 2 bắc qua sông Mekong tại tỉnh Savannakheth (Trung Lào).
Theo thiết kế, cầu rộng 13 mét, không có đường tàu hỏa, dài 1.600 mét – nếu tính cả cầu dẫn phía Lào dài 200 mét, phía Thái Lan dài 250 mét thì tổng chiều dài của cầu là 2.050 mét. Với tổng số vốn xây dựng là 8 tỷ yên Nhật do tổ chức JICA của Nhật Bản cho vay, trong đó Lào và Thái Lan mỗi bên vay một nữa (4 tỷ yên).
Trung Quốc: Do sự phát triển kinh tế, nhu cầu đi lại cũng như mức tăng dân số, nên tàu điện ngầm (MTR) là một công cụ giao thông quan trọng đối với các thành phố lớn ở Trung Quốc. Hiện nay 4 thành phố là Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân và Quảng Châu có tàu điện ngầm với tổng số chiều dài là 90 km và 600 tàu. Mới đây, chính phủ Trung Quốc phê chuẩn cho Nam Kinh xây tàu điện ngầm. 15 thành phố khác cũng xin xây dựng tàu điện ngầm, tính ra tổng đầu tư tới 140 tỉ NDT.
Tổng cục du lịch Trung Quốc cho biết trong nửa đầu năm nay có 35 triệu lượt người đến thăm Trung Quốc lục địa, trong đó c1o 30 triệ người đến từ Hồng Không và Ma Cau, thu về 6,9 tỷ USD. Trong nửa đầu 1999, ngành du lịch Trung quốc đã ký Hiệp định hợp tác du lịch với Việt Nam, Myanmar và Campuchia.
Nhật Bản: Đợt nắng nóng kéo dài gần một tháng nay tại Nhật Bản đã làm dấy lên cơn sốt đi nghỉ tại các vùng núi cao mát mẻ, các vùng biển và các hồ bơi tại các thành phố lớn. Chỉ tính riêng tháng 7, có 5 triệu người Nhật đi nghỉ mát. Các hãng du lịch phải huy động hết công suất làm việc, tuyển thêm thợ hợp đồng và tăng tiền thưởng cho tình nguyện làm thêm giờ. Kéo theo nó là việc gia tăng tiêu thụ các mặt hàng “chống nóng”: trong tháng 7 số máy điều hòa nhiệt độ bán ra cao gấp hơn hai lần tháng trước và cùng tháng này năm trước; bia Asahi, loại bia được ưa chuộng nhất ở Nhật đoạt doanh số cao nhất trong lịch sử của hãng này.
Malaysia: Bộ trưởng Văn hóa, Nghệ thuật và Du lịch Malaysia, Abdul Sheikh Fadzir cho biết chính phủ Malaysia có chương trình kích thích du lịch nội địa thông qua việc giảm thuế cho các hãng du lịch và hỗ trợ phát triển các điểm du lịch trong nước kết hợp với việc quảng bá du lịch nội địa thay vì du lịch ra nước ngoài. Chương trình này sẽ chính thức được phát động vào ngày 25/9/1999 bằng hoạt động mang tính hoành tráng dưới chủ đề “Màu sắc Malaysia” (Colors of Malaysia) tại thủ đô Kuala Lumpur.
Australia: Ngày 7-8, Bộ trưởng nhập cư Australia cho biết kể từ ngày 1-7-1999, Hồng Kông và Đài Loan đã được đưa vào danh sách 29 nước và lãnh thổ được cấp thị thực du lịch qua mạng máy tính. Theo đó, du khách Hồng Kông và Đài Loan vào Australia có thể được cấp thị thực ngay tại chỗ khi du khách mua vé vào Australia. Đây là một hệ thống có tính tương hỗ vì du khách Australia và lãnh thổ trên cũng sẽ được biệt đãi một cách tương tự.
N.C-Tuần Du lịch-Tổng cục du lịch-Bộ VH-TT-DL-33(85)-1999

Lãnh đạo Tổng cục du lịch tiếp Phó Chủ tịch Quốc hội Inđônêxia

Ngày 6/7/1999 tại Hà Nội, thay mặt lãnh đạo Tổng cục Du lịch, Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã tiếp bà Fatimah Achmad, Phó Chủ tịch Quốc hội nước cộng hòa Inđônêxia đang ở thăm và làm việc tại Việt Nam.Phó Tổng cục trưởng Phạm Từ đã thông báo với bà Fatimah Achmad và các vị cùng đi một số nét về tình hình phát triển của Du lịch Việt Nam trong những năm qua, đồng thời nêu rõ chủ trương coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi của Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển Du lịch vào những năm tới.
Bà Fatimah Achmad đánh giá cao tiềm năng và sự phát triển nhanh chóng của ngành Du lịch Việt Nam; khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ Inđônêxia trong mối quan hệ hợp tác phát triển Du lịch giữa hai nước Việt Nam và Inđônêxia.
Tại buổi tiếp hai bên đã trao đổi một số kinh nghiệm quản lý, khai thác vốn đầu tư phát triển Du lịch…., đồng thời mong muốn Chính phủ hai nước sớm có sự thỏa thuận song phương về việc miễn thị thực xuất nhập cảnh cho khách du lịch hai nước qua lại lẫn nhau trong tương lai.
Thành lập hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn
Ngày 2/7/1999 Tổng Cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng đã ký quyết định số 198/1999/QĐ-TCDL thành lập Hội đồng thẩm định xếp hạng khách sạn của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 6 thành viên do Phó Tổng cục trưởng Đặng Văn Tín làm Chủ tịch. Hội đồng có nhiệm vụ thẩm định để tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch việc xếp hạng khách sạn trong phạm vị cả nước. Hoạt động của Hội đồng thực hiện theo Quy chế làm việc do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt. Quyết định này thay thế cho Quyết định số 35/TCDL ngày 5-3-1994 của Tổng cục Du lịch và có hiệu lực thi hành kể từ 17-7-1999.
Thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch
Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Võ Thị Thắng vừa ký Quyết định số 199/1999/QĐ-TCDL (ngày 2-7-1999) về việc thành lập Hội đồng Khoa học kỹ thuật của Tổng cục Du lịch. Hội đồng gồm 12 thành viên. Phó Giáo sư – Phó Tiến sĩ Vũ Tuấn Cảnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn cho Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch về các vấn đề khoa học – công nghệ – môi trường liên quan đến các hoạt động của Tổng cục Du lịch. Hoạt động của Hội đồng tiến hành theo Quy chế do Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch phê duyệt .
Quyết định này có hiệu lực từ ngày 17-7-1999 và thay cho những Quyết định truớc đây về vấn đề này.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 28(80)1999

Đến sớm vài ngày

Một ông khách ngồi ăn trong một nhà hàng, khảng khái nói với chủ quán:
“Nếu mà biết thức ăn như thế này, đến ăn sớm vài ngày trước thì hay quá”.
Chủ quán nghe xong rất dỗi vui mừng: “Cám ơn sự khen ngợi của ngài, xin cảm ơn”.
Ông khách vội nói: “Ý của tôi là, cá và thịt này nếu ăn sớm vài ngày trước… thì đỡ bốc múi”.
Lễ phục cưới
Thợ may: Anh may bộ complê này có yêu cầu gì đặc biệt không?
Khách hàng: Chỉ mong bác làm cẩn thận, đây là lễ phục cưới của tôi.
Thợ may: Vậy tốt nhất là thay đổi một chút ở thiết kế, bởi vì bộ complê này nên may thêm túi kín để cô vợ tương lai không tìm thấy.
Thanh Hương
Thơ châm
“Yêng hùng” kiểu ấy…
Tới cuối phố tôi, bóng xế tà
Gặp mấy “cậu ấm” phóng hon-da
Ôm eo mỗi cậu… Kìa đôi thiếp!
Đèo ba, “đánh võng”… Chịu mấy bà!
Bia ngấm, tình say, lao bạt mạng
Dành đường. vượt ẩu, thả “mát ga”
Trổ tài phô diễn… Khỏe người đẹp
“Yêng hùng” kiểu ấy… dễ thành ma!
Vũ Ba Lan (Nghệ An)
3.Cầu Trường Tiền tròn 100 năm (1899 – 1999)
Chiếc lược ngà xứ Huế
Cùng với Sông Hương, núi Ngự, Linh Mụ… Cầu Trường Tiền là một trong những biểu tượng của Huế. Qua thời gian và những biến động của lịch sử – xã hội, chiếc cầu luôn gắn bó với đời sống của người dân Huế, luôn giữ cho mình nét riêng điểm tô cho vẻ đẹp của Huế. Trường Tiền từng đi vào dân gian Huế bằng những ca:
“Cầu Trường Tiền, sáu vài, mười hai nhịp
Anh qua chưa kịp em biết về noi mô”.
Có lẽ từ khi chiếc cầu gỗ được bắc qua sông Hương êm ả trong xanh kia, khi mà đôi bờ được nối liền không còn độ giang cách trở, và có lẽ cũng từ đó mà cầu Trường Tiền, cùng Thiên Mụ, trở thành hình ảnh đẹp khắc sâu vào ký ức của con người xứ Huế và du khách thập phương.
Được xây dựng từ năm Thành Thái thứ 9 (1897), 2 năm sau (tức năm 1899) chiếc cầu được hoàn tất với tên gọi là Cầu Thành Thái. Kiến trúc, xây dựng cầu do hãng Eiffel (Pháp) thi công. Khác với nhiều chiếc cầu khác được xây dựng trên đất nước Việt Nam, Trường Tiền có dáng dấp mềm mại, uyển chuyển với 6 vài, 12 nhịp thanh thoát bắc qua dòng Hương Giang xanh trong mượt mà như suối tóc dài của thiếu nữ Huế. Có lẽ chính vậy mà Trường Tiền được ví như một chiếc lược ngà. Khi mới xây dựng cầu có chiều dài 401m, bề ngang lòng cầu 6m20, mặt cầu lát bằng gỗ lim, chưa có lề cầu hai bên. Đến trận bão năm Thìn (1904) quét qua xứ Huế, Trường Tiền bị hư hỏng nặng. Hai năm sau (1906) cầu được tu sủa lại và lòng cầu đúc bằng bê tông. Đến năm 1937 cầu được đại trùng tu và mở thêm hai hành lang bên dành cho khách bộ hành và những phương tiện nhỏ như xích lô, xe đạp… với những lan can dạng vòm được mở rộng ở 5 trụ cầu giữa hai vài. Đây là một kiến trúc độc đáo có tính văn hóa nghệ thuật và tính khoa học cao.
Cầu Trường Tiền có nhiều tên gọi khác nhau như Thành Thái (1899 – 1907) rồi Clemenceau (1914 – 1918) tên Thủ tướng Pháp do Chính quyền Thực dân Pháp tại Huế đổi. Đến 1945 tên cầu được đổi thành Cầu Nguyễn Hoàng. Dù với tên Ta, tên Tây, người dân Huế vẫn quen gọi bằng tên dễ nhớ, dễ hiểu là Trường Tiền. Vì vào thời nhà Nguyễn có mở một công trường đúc tiền bên tả ngạn cầu mà người dân thường gọi tắt là Trường Tiền.
Trường Tiền cũng đã ghi những dấu ấn lịch sử của Huế bằng hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Cùng với người dân Huế, cầu cũng chịu chung sự đau thương, mất mát. Trong kháng chiến chống Pháp cầu bị sập hi vài phía tả ngạn (1946), đến năm Mậu Thân (1968) cầu lại bị chiến tranh làm sập một lần nữa hai vài bên hữu chúi xuống sống, 4 vài khác bị hư hỏng nặng, 6 vài chỉ còn 5, còn 1 vài thay thế bằng vài gỗ. Cho đến năm 1990 Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải ra quyết định về sửa chữa khôi phục cầu, một lần nữa cầu Trường Tiền được tái sinh vào ngày 19/5/1999. Tuy không được giữ nguyên như xưa, nhưng Trường Tiền vẫn giữ được nét duyên riêng của mình, vẫn là chiếc lược ngày ấy luôn chải cho dòng tóc Hương Giang mượt mà, mềm mại.
Nguyên Phương – Tuần Du lịch – 1999

Nước khoáng nước nóng “Một tiềm năng của ngành công nghiệp không khói”

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Việt Nam, các Viện Pasteur, thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang, Viện Vệ sinh dịch tế Trung ương, trường Đại học Dược khoa Hà Nội, Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường, trường Đại học Mỏ Địa chất… và việc ứng dụng trên thực tế của nhân dân thì ngoài việc được đóng chai để làm nước giải khác, NKNN còn được khai thác để chữa các bệnh như cơ khớp, da liễu, đường ruột, hô hấp, thần kinh, tim mạch, sún răng, xốp xương, làm năng lượng để sấy chè tươi, thuốc lá, nuôi tôm càng xanh vào mùa đông… Chính vì có những công dụng như vậy nên NKNN luôn có sức hấp dẫn đối với du khách trong nước và khách nước ngoài. Nhiều công ty du lịch trong nước đã coi NKNN như một tiềm năng to lớn đối với ngành công nghiệp ống khói.
Ông Phan Ngọc Cừ, chuyên viên cao cấp (Văn phòng Chính phủ), một chuyên gia về NKNN, cho biết hiện cả nước có trên 300 nguồn NKNN, trong đó có khoảng trên 30 nguồn chiếm 10% đã và đang được khai thác với nhiều mục đích khác nhau. Một số nguồn được khai thác để đóng chai làm nước giải khác với số lượng lớn như nguồn Thanh tân (Thừa Thiên – Huế) với sản lượng từ 700.000 đến 1 triệu lít / năm, nguồn Kỳ Quế (Quảng Nam) với sản lượng 2,5 triệu lít / năm, nguồn Vĩnh Hảo (Bình Thuận) với sản lượng gần 19 triệu lít / năm, đặc biệt như nguồn Đảnh Thạch (Khánh Hòa) có sản lượng lên tới 40 triệu lít / năm. Nguồn Mớ Đá (Kim Bôi, Hòa Bình) được Nhà nghỉ Công đoàn tỉnh khai thác làm nơi điều dưỡng với hàng trăm giường bệnh, thu hút mỗi năm từ 7 nghìn đến 10 nghìn lượt khách. Nguồn Mỹ Lâm (Tuyên Quang) cũng khai thác NKNN để làm nơi điều dưỡn, chữa bệnh cho hàng ngàn lượt bệnh nhân/ năm. Nguồn Bình Châu (Bà Rịa – Vũng Tàu) từ năm 1989 lại đây, Công ty Du lịch của tỉnh đã xây dựng tại đây một trung tâm Du lịch kết hợp tằm ngâm chữa bệnh, hằng năm thu hút hàng vạn lượt khách… NKNN dùng làm nước giải khát để uống rất vệ sinh. Du khách đến các nguồn NKNN không chỉ để biết thêm một vùng đất lạ mà còn được tắm, thậm chí chữa hết một số bệnh. Nhiều chuyên gia thuộc Hội Địa chất – Thủy văn Việt Nam cho rằng, với tiềm năng NKNN to lớn, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành một nền công nghiệp khai thác tổng hợp NKNN với mục đích chữa bệnh, phục vụ du lịch, năng lượng và có thể xuất khẩu.
NKNN là một tiềm năng của du lịch Việt Nam, ngành du lịch Việt Nam cần quan tâm khai thác tiềm năng này. Trước hết, các công ty lữ hành nên tìm hiểu, nghiên cứu đưa các nguồn NKNN thuận lợi vào chương trình tour của mình để phục vụ du khách.
Trường Định -Tuần Du lịch – 1999

“Cưỡi ngựa xem hoa” ở Sydney

Sydney là thành phố lớn nhất và đông dân nhất của liên bang Australia. Từ trên máy bay nhìn xuống sân bay thấy nước biển xanh như ngọc. Sân bay Sydney sát bờ biển đến nỗi có cảm giác khi máy bay xuống đường băng, cánh của nó sắp chạm mặt nước.
Chúng tôi ở khách sạn Rex trên phố Macleay khu trung tâm thành phố. Sau bữa sáng, ai cũng phấn chấn vì đây là ngày chủ nhật mặc sức tham quan. Cả đoàn chọn tuyến đến khu Cầu Cảng, nhà hát Opera, vườn thú Taronga. Sau bến ga tàu điện ngầm có chuyến tàu chúng tôi đã đến khu nhà hát. Nhà hát độc đáo của Sydney và của toàn thế giới này như con thuyền căng buồm đang lướt trên mặt biển. Xung quanh nó những tàu thủy chở khách du lịch, thuyền buồm rộn ràng. Hải âu bay nhẹ nhàng đậu xuống lan can, mắt tròn xoe nhìn khách tham quan. Đứng ở thềm nhà hát nhìn sang Cầu Cảng thật thú vị. Chiếc cầu một nhịp cong như cầu vồng. Trên đỉnh cầu phất phơ bay lá cờ Australia. Du khách mua vé và đi lên điểm cao nhất để nhìn thành phố. Vé qua phà và tham quan vườn thú mất 22 đô la. Phà chạy chầm chậm trên mặt biển, tha hồ cho những phó nháy bấm máy. Quay phía nào cũng đẹp như tranh. Trời xanh, cây xanh, biển xanh, buồm trắng, sóng trắng, nắng vàng. Người sang vườn thú thường đi cặp, hoặc cả gia đình, gương mặt người nào cũng rạng rỡ. Tôi được qua Thảo Cầm Viên ở Sài Gòn và Thủ Lệ ở Hà Nội. Thật không thể nào sánh được Taronga. Đó là một khu vườn rộng lớn choáng cả bán đảo. Nhiều đoạn như là đi trong vườn Cúc Phương, có đoạn lại dốc như đường lên Tam Đảo. Vườn thật mênh mông với bao nhiêu là khu đặc biệt chắc phải đi vài ngày mới xem hết. Chúng tôi hẹn gặp nhau 2 giờ ở cửa ra. Ai đi xem gì tùy thích. Cá sấu, voi, kaola, cá heo, hổ báo, kanguru, hải cẩu, chim, rắn, ếch nhái. Chẳng cứ gì của Austrlia mà có thứ từ châu Á, châu u, châu Phi, châu Mỹ… Chúng tôi dừng khá lâu ở nhà hát cá heo. Hôm ấy thật rủi là các tài tử cá heo không biểu diễn. Sân khấu nửa vòng tròn nước xanh vắng teo. Lẽ ra còn định xuống khu thủy cung để nhìn các loại cá én lượn trên đầu và xung quanh mình qua lớp kính nhưng đã hết. Xem trên sơ đồ thì đi chưa hết ¼ khu vườn thú…
Chẳng hiểu là may hay rủi, khách sạn chúng tôi ở thuộc khu Kings cross. Một khu nức tiếng với các Nightclub, các cửa hiệu dành cho người lớn. Cứ độ mươi lăm mét lại có một nhà hàng hoặc là chiếu phim sex hoặc biểu diễn thoát y vũ. Nhân viên nhà hàng chào mời, chèo kéo khách thoải mái. Họ toàn là nam. Xem phim giá 5 đô la. Thoát y vũ 25 đô la. Khi chúng tôi đi dạo, nhà hàng Show Girls mời chào hạ giá chỉ còn 10 đô la một vé.
Ở Sydney không khó khăn gì lắm, bạn có thể ăn một bữa cơm đặc Việt Nam ở nhà hàng Việt Nam, hoặc Triều Tiên, hay Trung Quốc. Chúng tôi đến quận Banktown nơi có rất nhiều người Việt định cư. Có cả phố người Việt mà biển hàng nửa tiếng Việt nửa tiếng Anh. Người Việt được nhận làm giáo viên dạy nhạc (anh Nguyễn Lê Tuyến), giáo viên môn tiếng Anh (chị Huỳnh Quốc Hương), làm cán bộ phòng giáo dục (anh Trần Long). Một điều vui là nhiều học sinh Việt Nam giỏi nhất nhì trường, nhưng hơi buồn khi chúng tôi gặp một học sinh lớp 11 trường Fairvale thì chúng tôi phải nói với nhau bằng tiếng Anh. Bởi tiếng Việt, có cháu trình độ chỉ như tiếng Anh của một số chú trong đoàn. Ấn tượng Sydney mạnh mẽ có lẽ là khu thể thao Homebush Bay được gọi là trái tim mới của Sydney chuẩn bị cho thế vận hội năm 2000
Chúng tôi vào nhà thi đấu bơi lội. Người Australia đã chuẩn bị cho thế vận hội thật chu đáo. Bể bơi thi đấu đã hoàn tất. Bây giờ nó mở cho tất cả những ai yêu thích bơi lội đến tập. Có khu bơi cho trẻ em, cho cả người tàn tật, cô gái phụ trách nói rằng khi thi đấu thế vận, người ta chỉ cần lắp hệ thống phao và máy đo thời gian là ổn. Và chỗ ngồi xem thì được nới thêm về phía sau. Không vào trong sân vận động chính nhưng chúng tôi được giới thiệu tỉ mỉ về nó. Sức chứa 110.000 người. Điểm cao nhất của sân là 58 mét so với mặt đất. Diện tích xây dựng 16 hecta. Khu vực đường chạy thi đấu rộng 120 mét dài 197 mét. Mái che 30.000 mét vuông. Nhịp đường cong chính dài 295 mét. Công ty Obayashi và công ty xây dựng tổng hợp xây dựng. Thiết kế Bligh Loff, các kiến trúc sư thể thao. Bắt đầu xây dựng tháng 9 – 1996, hoàn thành tháng 3 – 1999. Tổng chi phí 690 triệu đô la.
Chúng tôi ngẩng cổ nhìn hệ thống đèn chiếu sáng trên cao. Cảm thấy Australia có quyền tự hào về công trình thể thao đón chào sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh vào năm cuối cùng của thế kỷ 20. Và cũng thấy thấm thía sức mạnh kỳ diệu của con người.
Mong sao đến năm 2000, có nhiều người Việt Nam đến Australia để tham gia thế vận hội và khám phá nhiều điều kỳ diệu của một quốc gia đa văn hóa, đa dân tộc, giàu đẹp và mến khách. Dĩ nhiên trong số đó, tôi mong lại tới Australia lần nữa.
Nguyễn Sĩ Quế – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 27(79)1999

Vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch sinh thái

Trong hội thảo “Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội vừa qua, lần đầu tiên một khái niệm về du lịch sinh thái được xác định trên cơ sở nghiên cứu khoa học có tính thực tiễn phù hợp với đặc trưng của Việt Nam. Trong đó, có một vấn đề quan trọng được đề cập tới, đó là sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Vậy cộng đồng có vai trò gì trong hoạt động du lịch sinh thái? Những ghi nhận dưới đây từ hội thảo sẽ trả lời câu hỏi này.
Theo kinh nghiệm của các nước đang có loại du lịch sinh thái thì sinh thái được nhìn nhận từ hai vấn đề: sinh thái tự nhiên và sinh thái nhân văn. Tính nhân văn chính là mối quan hệ chặt chẽ giữa thiên nhiên với kiến thức văn hóa bản địa, trong đó cộng đồng địa phương là nhân tố quan trọng tạo ra và phát huy mối quan hệ đó. Một vùng sinh thái được đưa vào hoạt động khai thác du lịch sẽ có sự tác động qua lại tới cộng đồng dân cư ngay chính tại địa phương và trong vùng đệm. Đây là vấn đề phải được các nhà xây dựng quy hoạch nắm bắt và giải quyết một cách tốt nhất. Ở Thái Lan, khi nghiên cứu xây dựng quy hoạch khu du lịch sinh thái, vai trò của cộng đồng dân cư rất được coi trọng và thực tế đã đóng góp nhiều sáng kiến quý báu. Tại mỗi vùng sinh thái, mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư và tài nguyên thiên nhiên được thiết lập từ lâu đời. Người dân tại địa phương đã sử dụng nguồn tài nguyên đó làm phương tiện sống hoặc kế sinh nhai của mình. Nên hơn ai hết, chính họ có được những hiểu biết từ kinh nghiệm thực tiễn, hoàn toàn có khả năng góp sức xây dựng quy hoạch, tham gia vào việc xây dựng những chính sách, chiến lược phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.
Đối với các hoạt động đa dạng của du lịch, cộng đồng dân cư là nguồn nhân lực đáng kể. Những hướng dẫn viên là người địa phương (tất nhiên phải được đào tạo, tập huấn…) chắc chắn sẽ được du khách tin cậy bởi vốn kiến thức bản địa và được coi như một chủ thể trong chính nội dung du khách đang tìm hiểu. Những hoạt động khác như dịch vụ ăn, nghỉ, cung cấp hàng lưu niệm… cũng là những lĩnh vực thu hút đáng kể nhân lực từ cộng đồng. Đây là cơ hội tạo công ăn việc làm cho họ, giúp hoàn thiện cơ cấu kinh tế, ổn định đời sống. Chính họ sẽ là đội quân chủ lực trực tiếp tham gia bảo vệ môi trường tại khu vực đó. Ngoài ra lực lượng này còn trực tiếp nhắc nhở khách, chỉ dẫn, tuyên truyền hoặc cung cấp những thông tin kịp thời nếu có những vi phạm… góp phần nâng cao hiệu quả quản lý.
Tuy nhiên để cộng đồng dân cư phát huy tốt vai trò tham gia của mình thì các thành phần tham gia khác như Chính phủ, cơ quan quản lý du lịch, chính quyền địa phương, ngành chủ quản, công ty du lịch… phải giải quyết tốt những trở ngại trong việc tham gia của cộng đồng.
Trước hết cần sớm có chính sách khích lệ ở tầm vĩ mô đối với đời sống dân cư địa phương. Có thể là một mức thuế ưu đãi hay một hình thái kinh tế ưu tiên…Trách nhiệm của chính quyền địa phương đối với cộng đồng dân cư rất quan trọng. Do nhận thức và dân trí trong vùng thấp nên cần có các tổ chức hợp lý, phát huy tốt thế mạnh của dân, khuyến khích cộng đồng tham gia hoạt động du lịch có hiệu quả. Ở Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), việc chính quyền địa phương vào cuộc, với sự phân chia số thuyền chở khách hợp lý đã tạo sự cân bằng trong thu nhập. Việc bảo tồn các di sản thuộc sở hữu của dân nhất thiết phải có sự hỗ trợ kinh phí từ Nhà nước hoặc doanh nghiệp du lịch…, đồng thời tư vấn cho họ những giải pháp để bảo tồn. Cần có kế hoạch tốt để giải quyết việc chuyển đổi ngành nghề khi có nhu cầu thay đổi do phát triển du lịch sinh thái trong vùng, đảm bảo bình ổn đời sống của dân. tất nhiên không thể thiếu sợ hỗ trợ về tài chính, đào tạo dạy nghề… Ở Ao Vua (Hà Tây), Ban quản lý đã hỗ trợ địa phương quy hoạch làng xã, mở trường lớp cho học sinh, giao đất giao rừng để dân tự đầu tư, quản lý…
Hiện nay ở một số khu du lịch, do tác động của nhiều nguồn khách, nét văn hóa bản địa bị lai tạp, thoái hóa, mất dần tính hấp dẫn vốn có. Do đó, ngoài việc hạn chế tối đa những xâm hại ảnh hưởng từ lối sống đô thị, tệ nạn xã hội, giá cả thị trường… cần có chương trình giáo dục, nâng cao nhận thức để người dân thấy rõ bản sắc văn hóa địa phương là tài nguyên quý giá của chính mình. Thường xuyên cung cấp thông tin cho họ, luôn kịp thời bổ sung kỹ năng hoạt động du lịch, bảo tồn cho cộng đồng.
Để khuyến khích cộng đồng tham gia đầu tư vào hoạt động du lịch, bảo tồn, Nhà nước, Chính quyền địa phương, các doanh nghiệp cần có sự đầu tư ban đầu vào những công trình cơ sở hạ tầng, những hạng mục mẫu…, kèm theo những chỉ dẫn định hướng…
Một vấn đề quan trọng khác mà thực tế đang là mâu thuẫn cơ bản giữa cộng đồng với các nhà quản lý du lịch, khu bảo tồn đó là phân chia lợi ích. Không thể đòi hỏi cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào các hoạt động du lịch, nhất là công tác bảo tồn mà họ lại không được chia sẻ lợi ích thỏa đáng từ thu nhập du lịch. Việc này không thể xử lý ngẫu hứng mà cần có thể chế rõ ràng, có cơ quan kiểm soát những cam kết đã thỏa thuận.
Như vậy, vai trò của cộng đồng dân cư địa phương trong hoạt động du lịch sinh thái là hết sức quan trọng và đáng được đề cao. Sự thành bại của một chương trình du lịch sinh thái không thể thiếu vắng yếu tố quan trọng này. Do đó ngay từ bây giờ, khi bắt đầu xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam, các chuyên gia nghiên cứu, các nhà quản lý rất cần quan tâm tới vấn đề này.
Bùi Hoàng – Tuần du lịch – Số 38(90) 20 -27/9/1999

Những cái chết đã được báo trước_Phần 3

Có nhiều hộ còn làm mọi chuyện ngay trên đường ray như lôi sắt thép lên gò hàn, lôi lốp xe máy, xe đạp, ô tô vứt tứ tung lên đường ray.
Với 9km đường sắt nhưng có hơn 100 đường dân tự phá để đi cũng nói lên tình trạng coi thường luật lệ giao thông. Đó cũng bởi thói quen “đi ngang về tắt” một cách tùy tiện của người dân. Hỏi một số người mà gia đình họ tư phá hàng rào bảo vệ để đi thì họ trả lời: “Không mở thì đi ở đâu? Có tai nạn chết người thì cũng đâu phải nhà mình mà sợ!”. Thậm chí có người còn đùa “Ôi, chết thì lo gì! đã có quan tài đây, vòng hoa cờ phướn kia rồi”. Chả là gần ga Văn Điển có cửa hàng bán những thứ đó. Dân cứ phá ra, ngành đường sắt đứng nhìn và người người vẫn và sẽ đi qua những nơi này bởi vì đó là nhu cầu.
Trách nhiệm còn để ngõ
Tháng 9 là tháng an toàn giao thông, ngành đường sắt cũng trống dong cờ mở hưởng ứng phong trào này. Những ngày đầu tháng 9 ngành “ra quân” đi “giải tỏa” dọc tuyến. Nhưng kết quả mới chỉ là giải tỏa những việc “cỏn con” như dẹp hết những việc buôn bán, sinh hoạt trên đường ray và bên cạnh đường ray. Còn việc giải tỏa nhà dân đi để làm hành lang an toàn thì để “làm sau”(?). Nếu vậy thì những nhà dân bên cạnh “đoạn đường tử thần” vẫn còn cơ hội nán lại và nghe ngóng.
Ngày 4/8/1999 Bộ Giao thông Vân tải đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép triển khai dự án quy hoạch lại hệ thống đường ngang trên toàn tuyến đường sắt. Tổng số vốn đầu tư cho dự án này cần từ 500 đến 700 triệu đồng. Nhưng nhiều người vẫn hoang mang liệu dự án này có thực hiện được không?
Liệu khi đã có dự án thì việc di dời dân để làm hành lang an toàn và ngăn chặn, khắc phục hậu quả do những đường ngang dân sinh trên đoạn đường từ ga Hà Nội tới ga Văn Điển sẽ ra sao? Ngành đường sắt cũng có lý khi nói rằng địa phương phải có trách nhiệm quan tâm đến những người dân của mình và bảo vệ đường sắt ở địa phương mình. Chính quyền địa phương cũng có lý khi “luôn tuyên truyền giáo dục nhưng dân thiếu ý thức chấp hành” và “chưa đủ kinh phí để xin lập đường ngang”. Và người dân qua lại càng có lý khi họ “có nhu cầu đi lại, không đi qua những đường ngang ấy thì đi đường nào”. Suy cho cùng thì ai cũng có cái lý của mình. Chỉ có thể dứt điểm những vấn đề này khi mà cả người dân, chính quyền địa phương và ngành đường sắt cùng quan tâm trích ngân sách hoặc kêu gọi đầu tư để ủng hộ việc giải quyết vấn đề an toàn cho “đoạn đường tử thần” này.
Kim Ngân – Tuần du lịch – Số 37(89) 13 -20/9/1999