Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Phần 1

(Tham luận tại Đại hội Đảng lần thứ IX của đồng chí Võ Thị Thắng Ủy viên Trung ương Đảng – Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Đại biểu khối cơ quan kinh tế Trung ương)
Kính thưa đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước!
Kính thưa Đoàn Chủ tịch!
Kính thưa các vị khách quý!
Kính thưa Đại hội
Trước hết, tôi xin phép gửi tới Đại hội lời chào tin tưởng, lời chúc mừng nồng nhiệt, kính chúc các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị khách quý và toàn thể đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Đại hội thành công rực rỡ.
Tôi xin biểu thị sự nhất trí cao với các văn kiện trình ra đại hội; nhất trí với đánh giá thành tựu công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhất trí với đánh giá khuyết điểm, yếu kém, khó khăn thách thức mà chúng ta đang gặp phải; nhất trí với đường lối, phương hướng, giải pháp, mục tiêu, chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng, do Đại hội đề ra.
Là một đảng viên được Đảng phân công trực tiếp hoạt động trong ngành Du lịch, một ngành kinh tế non trẻ, tôi xin được phát biểu một số ý kiến cụ thể để góp phần nhỏ trong việc tìm ra một cách đi, một khâu đột phá, một mũi nhọn tiến công nhằm phát huy thành tựu của công cuộc đổi mới, khắc phục những khó khăn, hạn chế của một nền kinh tế đang phát triển, thiếu cân đối, có nguy cơ tụt hậu so với một số nước trong khu vực và quốc tế.
Thưa Đại hội!
Qua theo dõi thực tế phát triển gần chục năm nay của du lịch Việt Nam và tổng kết kinh nghiệm phát triển du lịch thế giới, chúng tôi nhận thấy có lẽ ít ngành có thể phát triển với tốc độ nhanh, sớm rút ngắn khoảng cách so với các nước trong khu vực như ngành Du lịch. Trong 10 năm qua, Du lịch Việt Nam có tốc độ tăng trưởng gấp 8,5 lần về lượng khách quốc tế, 11 lần về lượng khách nội địa; từ chỗ đứng hàng thấp nhất trong khối ASEAN, thua Thái Lan 40 lần, thua Philipines 10 lần, đã vươn lên vào hàng trung bình, đuổi kịp Philipines, chỉ còn thua Thái Lan 4 lần. Trước đây, phải mất 34 năm ta mới đón được người khách thứ 1 triệu vào năm 1994. Nay chỉ cần 6 năm, đến năm 2000, nước ta đón người khách quốc tế thứ 2 triệu. Tổng thu ngoại tệ đạt trên 1 tỷ USD. Nếu được tập trung chỉ đạo cao hơn, ngành Du lịch có kế hoạch, biện pháp tốt hơn, sắp tới khoảng thời gian này chắc chắn sẽ còn được rút ngắn hơn. Du lịch là ngành có giá trị xuất khẩu tại chổ rất lớn. Tính bình quân trên thế giới, đón 1 khách, thu nhập được 750 USD. Cao như Australia là 2.200 USD, Singapore thu 1.300 USD, ở nước ta tính thấp là gần 500 USD.
Trên phạm vi toàn cầu, Du lịch phát triển nhanh, với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 7%/năm. Về thu nhập trên 11%/năm. Theo số liệu của tổ chức Du lịch thế giới, năm 2000 khách du lịch trên toàn thế giới đạt 698 triệu lượt người, thu nhập từ Du lịch đạt 476 tỷ USD, tương đương 6,5% tổng sản phẩm quốc dân, và bằng khoảng 1/3 doanh thu khối dịch vụ toàn cầu. Dự báo năm 2010 lượng khách du lịch trên thế giới sẽ là 1 tỷ người, thu nhập đạt 900 tỷ USD và ngành Du lịch sẽ tạo thêm khoản 150 triệu chỗ làm. Tổ chức Du lịch thế giới vừa công bố: xuất khẩu tại chỗ qua Du lịch chiếm tỷ lệ cao nhất trong các ngành hàng xuất khẩu trực tiếp, cao hơn cả xuất khẩu ô tô, máy tính và thiết bị văn phòng, quần áo và vải vóc. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và Du lịch toàn cầu năm 1998 là 6.783 tỷ USD thì xuất khẩu tại chỗ qua Du lịch là 532 tỷ USD, chiếm 7,9%, ô tô 7,8%, máy tính và thiết bị văn phòng 5,9%, quần áo vải vóc 4,9%. Cho nên, để tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng hàng năm 12 – 15%, chúng tôi đề nghị cần kể đến giá trị xuất khẩu tại chỗ của Du lịch và cần tìm mọi cách để tăng lượng khách quốc tế đến nước ta. Nếu năm 2005, ta đón được 4 triệu khách quốc tế, bình quân thu từ một khách lúc đó là 700 USD thì sẽ có tổng thu gần 3 tỷ USD; năm 2010, 7 triệu khách, một khách 900 USD, tổng thu từ Du lịch có giá trị tương đương xuất khẩu tại chỗ 6 tỷ USD. Du lịch còn là nơi tạo công ăn việc làm; cứ 1 lao động trực tiếp cho ngành Du lịch sẽ kéo theo 2 chỗ làm gián tiếp. Du lịch phát triển kéo theo các ngành khác phát triển. Du lịch phát triển đến đâu, đời sống cộng đồng dân cư khá lên đến đấy. Như vậy, phát triển Du lịch có tác động trực tiếp vào chương trình xóa đói giảm nghèo.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Về với Củ Chi anh hùng

Rời thành phố Hồ Chí Minh có bao điều lý thú, chúng tôi về thăm Củ Chi với sự hướng đạo của một đồng nghiệp báo Sài Gòn Giải phóng. Trời bất ngờ mưa tầm tã khiến trong đoàn có ý kiến e ngại: “Mưa gió thế này mà chui vào địa đạo có mà rắn rết cắn chết!”. Không ai nói gì, bởi trong chúng tôi ai cũng hình dung những đường hầm sau 20 năm chiến tranh đang đầy cỏ dại, gai góc và rắn rết.
Nhưng đến nơi, sự thật ngỡ ngàng dành cho cả đoàn: Mưa lớn vậy mà khách đến tham quan vẫn tấp nập, xe đỗ san sát. Thì ra, “mưa Sài Gòn mưa rồi chợt nắng” mà! Ngay sau đó, chúng tôi được đưa vào rừng. Thật thú vị khi hướng dẫn viên đều ăn mặc như hồi chiến tranh: nam mặc đồ giải phóng, mũ tai bèo, nữ mặc bà ba đen, quàng khăn rằn và đi dé lốp. Sự có mặt của họ bên trong những búi cây, ở mỗi khúc quanh khiến du khách đang có cảm giác đang được sống trong sự thật của Củ Chi thời đánh giặc. Chúng tôi đến một căn hầm rộng , lớp lá cao ngang mặt đất. Đây chính là hội trường của bộ đội. Nữ “du kích” thuyết minh tổng quát về địa đạo Củ Chi với băng tư liệu về những ngày đánh Mỹ. Một anh “bộ đội” lại đón chúng tôi luồn rừng trong mưa, đến một cửa hầm khác, đưa chúng tôi chui vào lòng đất. Khác với sự tưởng tượng của chúng tôi, đường hầm đều sạch bong, khô ráo và có điện sáng trưng.
Địa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250 km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc kí xúc đất. Đường hầm sâu dưới đất từ 3 -8 m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Dọc đường hầm có lỗ thông hơi , bên trên được ngụy trang kín đáo và trổ lên mặt đất bằng những cửa bí mật. Liên hoàn với các địa đọa là các hầm rộng để nghỉ ngơi, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẩu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, ngụy trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
Hãy một lần chui vào địa đạo, ta sẽ thấy rõ chiều sâu thăm thẳm của lòng căm thù, ý chí bất khuất của “vùng đất thép” và sẽ hiểu vì sao một nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng một nước lớn giàu có như Hoa Kỳ? Ta cũng sẽ hiểu vì sao Củ Chi – mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt 20 năm với một đội quân thiên chiến, vũ khí tối tân mà vẫn giành thắng lợi. Cũng từ địa đạo này, cuộc hành trình Crimp (cái bẫy) của Mỹ với 3000 quân bộ, cuộc hành quân Sedarfall gồm 12.000 lính, có xe tăng, máy bay yểm trợ tối đa, nhằm biến Củ Chi thành”khu tự do hủy diệt” đã bị đập tan. Củ Chi thật xứng danh “đất thép thành đồng” qua 20 năm bền bỉ chiến đấu.
Rời khỏ những đường hầm đầy ấn tượng bởi sự thiếu dưỡng khí, chúng tôi về một hầm nghỉ khác trước khi ra khỏi rừng. Những người “lính” lại đón chúng tôi vào và thật bất ngờ khi đĩa săn luộc, bát muối vừng được đưa ra. Cảm giác thời chiến sống lại như thật khiến chúng tôi thấy miếng sắn bùi ngọt hơn trong những tình cảm thân thương đến khó tả…
Giám đốc khu di tích lịch sử tiếp chúng tôi tại nhà nổi bên sông Sài Gòn. Những người con của hai miền đất nước có những sự kiện gắn liền với lịch sử của dân tộc giờ hội tụ lại đây trong không khí thanh bình, để cùng nhớ về truyền thống anh hùng của cha ông với niềm thành kính và tự hào: ATK Thái Nguyên ngày kháng Pháp và Củ Chi thời chống Mỹ. Những ly rượu bé xíu, trong là vắt và nồng nàn được gọi đàu là nước mắt quê hương bên đĩa rau mốp muối chua, giòn và ngon đến lạ! Các anh chị ở Củ Chi còn cho hay: Rau mốp là lương thực chính của quân dân Củ Chi ngày trước, còn giờ đây đang là đặc sản.
Thế cây rau mốp thế nào ạ?
Lá nhỏ, mọc nổi trên mặt nước.
Chắc là giống cây rau rút ngoài Bắc?
Nhưng cây rau rút như thế nào?
Cau hỏi lại trả lời bằng câu hỏi khiến những tiếng cười vang mãi trên mặt sông, làm vỡ cả nhưng mảnh nắng vừa kịp roi xuống nước. Sự giao lưu giữa 2 miền quê thật thú vị và đầm ấm biết bao.
Gió trên sông lồng lộng tiễn chúng tôi rời khỏi Củ Chi, đi qua 18 thôn vườn trầu nổi danh trong tiểu thuyết “Gia đình má bảy”, trở lại thành phố Sài Gòn. Những âm thanh nhộn nhịp, tươi vui của “Hòn Ngọc Viễn Đông” không làm chúng tôi quên đi những cảm xúc rất thật, rất sống và rất đẹp về một vùng đất kỳ tích mà chuyến đi du lịch mang lại.
Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Kon Tum – vùng du lịch hấp dẫn

Công bằng mà nói, con số 15.500 lượt khách du lịch đến Kon Tum trong năm 2000 đã chứng tỏ sản phẩm du lịch của Kon Tum dẫu phong phú, hấp dẫn song vẫn chưa đến được nhiều với du khách du lịch. Nguyên nhân thì có nhiều, đang được tỉnh và ngành Du lịch tích cực khắc phục. Năm 2000, ngành đã xây dựng Làng văn hóa – du lịch Kon Kơtu, đưa vào khai thác tuyến du lịch trên sông Đakbla – Lòng hồ Yaly… đã phần nào tạo nên sự khởi động cho hoạt động du lịch ở đây. Tuy nhiên Du lịch Kon Tum chỉ có thể bừng dậy khi những đề án của ngành Du lịch được thực hiện. Anh Huỳnh Đức Tiến – Giám đốc Công ty Du lịch Kon Tum bộc bạch: “Năm 2000 chỉ là năm khởi động, từ năm 2001 – 2003 sẽ là thời gian tập trung xây dựng cơ sở vật chất: xây dựng khách sạn 3 sao Đông Dương (kinh phí gần 20 tỷ đồng), xây dựng nhà nghỉ tại Cửa khẩu Ngọc Hồi – Bờ Y (1,5 tỷ đồng), củng cố và xây dựng thêm một số làng du lịch văn hóa, xây dựng các tuyến, điểm du lịch sinh thái, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, làm hấp dẫn thêm đối với các tuyến du lịch từ sông Đakbla – Lòng Hồ Yaly, phấn đấu năm 2001, Kon Tum đón được 48.600 lượt khách, trong đó khách quốc tế là 1.740 lượt. Đến năm 2005. Đón gần 40.000 khách, trong đó có 7600 khách quốc tế. Doanh thu lúc đó sẽ là 19,6 tỷ đồng, gấp 3 lần năm 2001.
Theo kế hoạch này, Làng du lịch văn hóa Kon Kơtu (lâu nay đã thu hút khách du lịch rất đông) tiếp tục được củng cố, làm phong phú thêm sản phẩm. Từ thị xã Kon Tum, khách qua cầu treo trên sông Đakbla đến làng Kon KơTu, sau đó đi xuyên rừng, trưa ở lại sinh hoạt trong rừng nguyên sinh đầu nguồn Yaly, chiều sẽ được tắm sông, nơi có bãi cát đẹp nhất tại làng Kon Kơtu, rồi đi thuyền độc mộc đến làng KonBả. Từ KonBả, du khách có thể đi bộ hoặc đi xe đạp về lại làng Kon Kơtu để bắt đầu buổi sinh hoạt với dân làng. Du khách sẽ được ăn các sản vật địa phương như cơm lam, uống rượu cần, được cùng ca hát, nhảy múa với trai gái làng, xem biểu diễn cồng chiêng trong ánh lửa bập bùng bên mái nhà rông. Khi ngọn lửa đã tàn, chế rượu đã cạn, du khách sẽ được nghỉ lại tại nhà rông của làng để tận hưởng không khí hoang sơ của khung cảnh núi rừng Tây Nguyên.
Từ mô hình làng Kon Kơtu, Công ty sẽ xây dựng thêm Làng văn hóa du lịch Kondu tại huyện Konplong để kết hợp với tour du lịch sinh thái rừng thông Măngđen; xây dựng điểm dừng chân cho khách đường sông tại làng Chờ (huyện Sa Thầy), Làng Măng La (Thị xã Kon Tum). Đặc biệt là khu vực Bến Cá (xã Ya Chim) có một bãi đá nhô hẳn ra sông, bờ bên kia là rừng nguyên sinh, rất hấp dẫn. Khách có thể đi bằng xe ô tô từ thị xã đến Bến Cá, rút ngắn được thời gian ngồi trên thuyền. Từ đây, khách đi thuyền tham quan lòng hồ Yaly (cách đó 12km), tham quan rừng nguyên sinh, đến làng Rắc (xã Yasia) tham quan tượng nhà mồ Sêđăng. Làng Chờ (huyện Sa Thầy) với diện tích 15ha, sau khi xây dựng hoàn thành sẽ là một khu du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, thưởng thức các món ăn chế biến từ cám tham quan vườn nuôi thú… Đây là một bán đảo ba bề sông nước, cảnh quan đẹp và hấp dẫn du khách trong các tour du lịch sinh thái, văn hóa.
Du lịch Kon Tum sẽ có những chuyển biến mạnh trong một vài năm tới. Nhất là khi cửa khẩu Ngọc Hồi – Bờ Y được khai thông sang Lào, đường Hồ Chí Minh hoàn thành giai đoạn 1, du khách có thể đi từ Huế – Đà Nẵng đến Kon Tum, bắt đầu cho tour du lịch sinh thái Tây Nguyên trước khi vào thành phố Hồ Chí Minh. Kon Tum sẽ mở các tuyến du lịch sang Udol (Thái Lan), Atôpư (Lào)… Trung tâm điều hành hướng dẫn du lịch Kon Tum đã kết nối hoạt động với nhiều Công ty lữ hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hai văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động bắt đầu có hiệu quả sẽ là nguồn khai thác khách tốt cho Công ty.
Diện mạo của vùng du lịch bắc Tây Nguyên đã dần dần hiện rõ. Kon Tum sẽ là điểm đến đầy ấn tượng đối với du khách bốn phương.
Vân Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Hội nghị pata lần thứ 50

Sau 5 ngày làm việc, từ 8 – 12/4/2001, với sự tham gia của 1.325 đại biểu của 55 nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Hội nghị PATA thường niên lần thứ 50 đã kết thúc tốt đẹp tại thủ đô Kualalumphur, Malaysia.
Các đại biểu đã thông qua Nghị quyết về hướng phát triển cho Hiệp hội trong 50 năm tới, khẳng định lại cam kết của Hiệp hội đối với sự tăng trưởng bền vững của lữ hành; thúc đẩy các thành viên công nhận và thực hiện qui tắc của PATA về kiểm soát môi trường, cam kết ủng hộ chương trình xanh toàn cầu.
Cũng tại Hội nghị, PATA và Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) cũng ký bản “Qui tắc du lịch bền vững”, nhằm thúc giục Hiệp hội và các nền kinh tế APEC trong việc bảo tồn môi trường thiên nhiên, đa dạng hóa sinh học; tôn trọng và ủng hộ nền văn hóa, truyền thống địa phương và cộng đồng.
Khởi công xây dựng khu du lịch suối tiên
Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Hà Giang vừa khởi công xây dựng khu vui chơi giải trí Suối Tiên tại Km2 đường Hà Giang đi Đồng Văn. Tổng diện tích khu vui chơi Suối Tiên khoảng 6.002,8 m2, bao gồm các hệ thống đường nhánh, đường vào hang đá, khách sạn, biệt thự ven suối, Campink, khu bể bơi, bể vẩy nước tự nhiên trong suối và các khu phụ trợ…
Vốn đầu tư công trình là 6.550 triệu đồng, bằng nguồn ngân sách do Công ty Đầu tư và Xây dựng Hà Nội thi công. Là công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Công trình Du lịch Suối Tiên dự kiến hoàn thành vào quý IV năm 2002.
Sau khi hoàn thành, khu vui chơi giải trí Suối Tiên sẽ đón tiếp khách thập phương, nhân dân lao động đến nghỉ ngơi cuối tuần, thăm quan du lịch. Cùng với Hồ Noong, Núi Cấm, Suối Tiên sẽ trở thành cụm du lịch sinh thái trên địa bàn thị xã Hà Giang.
Thỏ hầm rượu – món ăn đặc trưng vùng poitou – charentes
Trong tháng 4 này, Marc Pasrorio Peyssard và Fabien Dupout – hai đầu bếp giỏi của Pháp đã từng gặt hái nhiều huân chương, huy chương trong các cuộc thi nấu ăn quốc tế đã sang Việt Nam. Họ có 2 tuần trình diễn cách nấu các món ăn vùng Poitou – Charentes ở hai khách sạn Sofitel tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây, hai ông sẽ giới thiệu với các bạn cách chế biến món thỏ hầm rượu – món ăn đặc trưng của vùng biển Poitou – Charentes.
Nguyên liệu: Thỏ 1 con 1,5kg, một ít mỡ lợn nước, 3 nhánh hành hoa, 2 nhánh tỏi, 2 cl rượu cô nhắc, ¼ chai rượu pinô hồng, 3 quả cà chua và húng tây, cây thắng, muối, hạt tiêu (dành cho 5 người ăn).
Cách làm: Thái thịt thỏ thành từng miếng to bằng bao diêm, ướp muối và hạt tiêu. Sau đó, rán vàng từng miếng trong nồi gàng bằng mỡ nước. Gắp ra để ráo mỡ; phi thơm dọc hành và tỏi trong chảo gang. Sau đó cho thịt thỏ đã rán vào, tưới đều hai thìa cà phê rượu cô nhắc rồi đun to lửa, làm mềm thịt thỏ bằng rượu pinô hồng. Cho cà chua cắt hình quả cau, rau thắng và húng tây vào rồi để sôi một lúc. Đậy vung lại, đun vừa lửa trong khoảng 1,5 tiếng (5 phút trước khi thịt chín, cho gan thỏ vào). Xếp thịt thỏ ra đĩa. Chú ý giữ nguyên hình thỏ, tưới nước sốt rồi ăn nóng.
T.B – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

1,6 tỷ đồng viện phí bị tham ô

Chẳng phải đến khi ngôi nhà ba tầng của Hà Thị Lan Anh sừng sững mọc lên giữa trung tâm thành phố Thái Nguyên thì dư luận mới đặt câu hỏi nghi ngờ. Mà từ lâu, mọi người đã không thể hiểu nguồn thu nhập nào đã giúp Lan Anh vừa nuôi chồng nghiện hút mà vẫn tiêu xài xa hoa, trong khi cô chỉ là một nhân viên thu viện phí của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Cho đến 2/2001, dư luận mới có câu trả lời vào lúc mà chính Bệnh viện Đa khoa Trung ương bị “té ngửa”. Ba nhân viên của bệnh viện: Hà Thị Lan Anh, Trần Thị Thoa và Trần Thị Thu là đồng bọn trong 1 vụ tham ô tới hơn 1,6 tỷ đồng!
Sự việc bắt đầu cách đây 4 năm. Trần Thị Thoa là Tổ trưởng tổ thu viện phí của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên gồm 11 người, thuộc phòng tài chính – kế toán. Mỗi ngày, tổ có nhiệm vụ thu rồi nộp viện phí về phòng theo cách hạch toán báo sổ (khoảng 10-20 triệu/ngày). Nhận thấy sự sơ hở trong công tác quản lý tài chính ở bệnh viện, là chỉ thu theo sổ tổng hợp do tổ viện phí lập ra mà không có sự kiểm tra sổ chi tiết, Trần Thị Thoa đã “thử” bớt lại vài triệu và nói với 2 người cùng ca trực (Thu và Lan Anh) là “vay”. Sau khi nộp vào quĩ, thấy không ai phát hiện ra số tiền đã bị bớt lại, Trần Thị Thoa lập tức ỉm đi. Hơn thế, thị lại còn bàn với Thu và Lan Anh tiếp tục rút tiền viện phí ra theo kiểu đó để chia nhau hàng ngày. Mặc dù thế, trong sổ chi tiết của khoa, chúng vẫn kê đầy đủ để có hóa đơn cho bệnh nhân đúng số tiền họ đã nộp. Chỉ khi nộp vào quĩ, chúng mới lập bảng kê 1 phần số tiền thu được (Bên cạnh đó, chúng còn đưa danh sách bệnh nhân bỏ trốn không nộp viện phí (khoảng 500 người/năm) vào phần phần bảo hiểm y tế chi để rút ruột bảo hiểm y tế hơn 40 triệu). Bằng thủ đoạn trên, ngay trong năm đầu thực hiện chúng đã lấy được hơn 100 triệu đồng. Càng về sau, hành vi của chúng càng liên tục và nghiêm trọng: năm 1999 lấy 532 triệu, năm 2000, biết tin bệnh viện sắp quản lý sổ sách bằng vi tính, chúng đã lấy ra hơn 600 triệu. Ăn cắp nhiều đến nỗi, khi cơ quan điều tra hỏi, chúng không nhớ nỗi đã lấy bao nhiêu tiền. Chỉ đến khi toàn bộ sổ sách được kiểm tra, mọi người mới giật mình vì con số quá lớn: 1,6 tỷ đồng! Lan Anh kể lại: Có lúc sợ quá nên xin không ở tổ thu nữa nhưng Thoa không nghe vì sợ lộ! Chỉ đến khi phòng tài chính – kế toán đối chiếu thử bảng kê và sổ gốc, thấy một bệnh nhân nộp viện phí 3 triệu nhưng tổ chỉ lập bảng kê là 600.000 đồng và cho niêm phong sổ sách thì Thoa, Thu và Lan Anh mới vội vàng nhận tội và đem trả 535 triệu – một phần tiền chúng đã tham ô.
Để thất thoát số tiền khổng lồ như đã nêu, trách nhiệm đầu tiên thuộc về lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên khi không có biện pháp quản lý, giám sát chặt chẽ về tài chính – kế toán ở đơn vị. Vài năm trước, đã có ý kiến đề nghị Bệnh viện quản lý tài chính trên mạng nhưng không hiểu vì sao vẫn không được chấp nhận nên đã dẫn tới hậu quả này. Dĩ nhiên, trách nhiệm trực tiếp là phòng tài chính kế toán, có chuyên môn nghiệp vụ nhưng lại không làm đúng nguyên tắc khi thu tiền. Chính sự buông lỏng quản lý cả từ Bệnh viện đến phòng đã tạo điều kiện cho tội lỗi tồn tại trong 4 năm qua một cách có tổ chức nên gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Chắc chắn đây sẽ là bài học cảnh tỉnh cho nhiều Bệnh viện trong công tác quản lý thu chi viện phí. Việc 3 thủ phạm lại là 3 đảng viên, lao động giỏi nhiều năm cũng là bài học về công tác tổ chức cán bộ, giáo dục đảng viên ở chính Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên.
Thái Hoàng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 15(180)2001

Ngày phế tích Angkor được khám phá

Tháng 11/1859, giữa rừng già xứ Cao Miên (Campuchia ngày nay), một người đàn ông tiến chầm chậm trên bờ đá một dòng nước chảy xiết. đó là Henri Mouhot. Vào thời kỳ các cường quốc phương Tây tìm cách chinh phục địa phương và kiểm soát các con đường chiến lược ở Đông Nam Á, thì nhà vạn vật học khiêm tốn ấy có những chủ ý rất hiền hoà, khi đi khắp Đông Dương. Sinh năm 1826 tai Montbéliard (Pháp), 18 tuổi ông đã tìm được một chân dạy Pháp văn tại Học viện quân sự ở Saint – Pétersbourg (Nga). Năm 30 tuổi, ông kết hôn với một cô gái Anh và đến sống tại Jersey, nơi ông giành thì giờ nghiên cứu vạn vật học. Vợ ông là cháu của nhà thảm hiểm nổi tiếng Mungo Park, bị ám sát bên bờ sông Niger (Châu Phi). Nhưng ông bị Châu Á thu hút hơn, khi khám phá một quyển sách có minh hoạ về vương quốc Xiêm (Thái Lan ngày nay), và các hình vẽ về động vật nhiệt đới.
Ông dự tính lên đường, nhưng các hội nghiên cứu của Pháp xem rẻ Mouhot, một người còn non trẻ. Ngược lại, tại Luân Đôn, ông được một hội động vật học và nhất là hội Royal Geographical Society bảo trợ. Ông vẽ giỏi, nên họ hi vọng ít ra ông cũng đem về được nhiều bản vẻ đẹp.
Đến Bangkok năm 1858, mục tiêu đầu tiên của ông là nghiêm cứu động vật. trong một năm, ông thu thập được kinh nghiệm sống trong rừng già, cũng như quan sát phong tục tập quán của dân địa phương, có được mối giao hảo với các vua chúa, thám hiểm các di tích trong xứ, nghiên cứu địa chất học. Ông tiếp tục bổ túc các chủng loại hiếm vào mấy bộ sưu tập sinh và thực vật, nhưng rồi vạn vật học chỉ còn giữ một phần trong tấm hoạt động của ông.
Trong sổ du khành của mình, Mouhot ghi lại tỉ mỉnhững gì ông thấy. đầu tiên là Bangkok, thủ đô Xiêm La, với nhiều dinh thự và chùa chiền đẹp, có con sông Ménam chảy qua. Cùng hai người đầy tớ (một Việt, một Hoa) ông tiến vào rừng bằng các phương tiện thô sơ: xuống chèo, loại bộ.
Đến tháng giêng năm 1859, ông đến xứ Cambốt, lúc đó thủ đô đặt tại Odung (tức Udong ngày nay) và được vua Norodom tiếp. Vua cho ông mượn chiếc ghe, nên ông có dịp biết qua Biển Hồ (Tonlé Sap). Mouhot sống 3 tháng trong rừng già, giữa bộ lạc “Stieng”. Khi đến Battambang, ông gặp một nhà truyền giáo, linh mục Sylvestre. Gần thành phố ấy, ông bắt gặp một số phế tích. Đi lên phía thượng nguồn sông Seam Sap, ông trong thấy vết tích của một kiểu kiến trúc độc đáo.
Gặp Phó vương của Battambang, Mouhot làm quen và được cung cấp cho một giấy thông hành di chuyển tự do trong vùng. Nhờ đó, ông khám phá ra Angkor Vat, rồi Angkor Thom – có nghĩa là thành phố lớn.
Chu vi tường thành xung quanh Angkor Thom được Mouhot ước tính 40 cây số, bề dày 3,80 mét, cao 7 mét. Còn Angkỏ Vat thì dường như là “tiền đồn” của một thủ đô.
Ngày nay, người ta biết chính Suryavarman Đệ nhị, sống trong nữa đầu thế kỷ 12 đã cho xây dựng Angkor Vat. Còn vòng thành Angkor Thom và đền Bayon thì đựơc xây dựng hồi cuối thế kỷ 12, dưới triều vua Jayavarman Đệ thất.
Tr. Lệ Tài – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Kỳ án tại Hải Dương

Một ông giáo 18 năm lê gót đi tìm công lý…
Cách đây 18 năm , gia đình ông giáo Phạm Văn Đính ở thôn Toại An, xã Đông Kỳ, huyện Tứ Lộc, tỉnh Hải Hưng (nay là Tử Kỳ, tỉnh Hải Dương) bị kẻ xấu ném lựu đạn vào nhà chết vợ và hai con ông. Từ ngày đó đến nay,ông đã lê gót đến khắp các “cửa quan” để kêu oan với số lượng đơn lên tới 40 – 50 kg, vậy mà cánh cửa công lý vẫn chưa mở…
Thủ phạm là ai?
Đối với ông giáo Đính, cái ngày 26/12/1983 là một nỗi ám ảnh kinh hoàng. Khoảng 6 giờ sáng hôm đó khi trời còn mờ sương, ông Đính đang nẳmtên giuờng cùng đứa con trai út thì bất ngờ một quầng lửa bùng lên kèm theo tiếng nổ lộng óc “nhăc bônge” ông và cậu con trâi “quẳng” vào góc nhà. Khi định thần, cặp mắt của ông trợn ngược như muốn lọt ra khỏi tròng bởi trên nền nhà, vợ ông – Bà Nguyễn Thi Yên, 45 tuổi cùng con trai Phạm Phú Lộc 11 tuổi (sinh năm 1972) và con gái Phạm Thị Yến 7 tuổi (sinh năm 1976) đã chết ngay tại chỗ.
Khi xảy ra vụ án, Cảnh sát điều tra tỉnh Hải Hưng và huyện Tứ Lộc đã có mặt để điều tra vụ án. Ngay hôm đó, cảnh sát điều tra tỉnh Hải Hưng đã bắt đuợc Nguyễn Văn Ưóc (ở cạnh nhà ông Đính) – người bị tình nghi thủ phạm gây ra vụ trọng án…
Một lệnh tha khó hiểu?!
Trong báo cáo gửi các cơ quan chức năng, ông Nguyễn Duy Diễn – Phó giám đốc công an tỉnh Hải Hưng khẳng định: “Qua thu thập chứng cứ, tài liệu đã ra lệnh bắt giữ Nguyễn Văn Ước (sinh năm 1958). Qua xét hỏi, Ước đã thừa nhận hành vi phạm tội của y: do thù tức anh Đính nên đã dùng lựu đạn ném vào nhà nhằm mục đích giết hại gia đình anh Đính…” Sau khi tiến hành điều tra, xác minh và đối chiếu lời khai, tháng 4.1984, Công an tỉnh Hải Hưng đã có kết luận điều tra, chuyển toàn bộ hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Hưng đề nghị truy tố Nguyễn Văn Ước (đề nghị số 31). Ngày 11/4/1984, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã ra cáo trạng số 72 truy tố Nguyễn Văn Ước về tội giết người và chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân tỉnh để xem xử. Ai cũng tưởng lưới trời lồng lộng, hung thủ chỉ còn chờ ngày nhận sự trừng phạt nghiêm khắc của pháp luật nhưng…
Sau 30 tháng tạm giam, ngày 30/6/1986, Nguyễn Văn Ước đã được tha bổng với lệnh tha số 06/KSĐT do Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Hưng Bùi Xuân Mẫn ký: “Xét không có đủ căn cứ để kết tội cho Nguyễn Văn Ước ném lựu đạn vào nhà ông Phạm Văn Đính ở thôn Toại An, xã Đông Kỳ, Huyện Tứ Lộc, Hải Hưng ngày 26/12/1983 làm chết tại chỗ 3 người (vợ và hai con ông Đính)…”. Lệnh tha này của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Hưng đã làm cho quần chúng nhân dân cũng như các tổ chức đoàn thể địa phương hết sức bất bình. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đảng Ủy, Chính quyền huyện và xã, ngành Giáo dục (Sở GD – ĐT huyện Tứ Lộc) đã nhiều lần làm công văn kiến nghị đến các cơ quan chức năng yêu cầu sớm giải quyết dứt điểm vụ việc này 9CV ngày 20/11/1988, CV số 2/CV-UB, CV số 2/TTr, số 261/CV-UB, CV số 94/VP-CT…) Thế nhưng tất cả các kiến nghị đó đều như “muối bỏ biển” không có hồi âm. Tại sao Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Hưng lại có những kết luận trái ngược như vậy? Liệu có phải Nguyễn Văn Ước đã hoảng sợ nên khai bừa với cơ quan Cảnh sát điều ta, và Viện kiểm sát nhân dân sau khi điều tra đã không đồng ý với kết luận của bên Công an? Nếu vậy thì tại sao họ lại vội vàng ra cáo trạng truy tố sớ 72 đối với Nguyễn Văn Ước? Còn nữa, vì sao Nguyễn Văn Ước bị bắt sau 5 ngày không có bản cung nào? Như vậy có phải là trái với luật tố tụng hình sự quy định về quá trình điều tra xét hỏi? vậy mà các cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương (Vụ 2B – Bộ Công an, CSĐT và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Hưng…) đều “quên” chi tiết này. Như thế thử hỏi làm sao”đủ” căn cứ để buộc tội Nguyễn Văn Ước.
Công lý đang ở đâu?
Trong khi ngồi viết bài nay, lòng tôi chợt đau nhới bở hình ảnh người thầy giáo khắc khổ 18 năm lê bước khắp nơi đẻ tìm công lý. Đối với ông, công lý là một khái niệm rất mơ hồ mà ông khó có thể nắm được. 18 năm kêu oan, với số lượng đơn thư lên tới 50 kg, từ lúc tóc ông còn xanh nay đã muối tiêu, trong những năm của thập kỷ 80, nhiều báo đã đồng loạt đề nghị các cơ quan hữu trách sớm đưa vụ án ra ánh sáng pháp luật. Vậy mà than ôi, đến nay vụ án vẫn bị bức màn đen và bụi thời gian che phủ. Nguyễn Văn Ước không phải là thủ phạm vậy ai đã ném lựu đạn làm một lúc 3 mạng người. Câu hỏi này cho đến nay các cơ quan Thi hành pháp luật vẫn chưa trả lời được. 18 năm trời đằng đẵng đi lại gõ cửa, chầu chực, rồi vô số lần ông Đính phật phồng trước những chỉ thị và những lời hứa… Nhưng rồi tất cả cứ chìm vào lãng quên.
Giờ đây, ông giáo Đính chỉ còn tin vào đấng tối cao linh thiêng. Ông cũng mong rằng ngài thấu hiểu được nỗi oan khuất của gia đình ông mà ra tay tế độ rửa tay cho gia đình ông nõi đau đớn đó. Tôi chợt lẫn thẩn nghĩ rằng: ông thành tâm như vậy, biết đau “ngài” chảng hiển linh mà run rủi cho thu phạm và kẻ liên quan sa lưới phápluật. Nhưng ngày ấy bap giờ mới tới? Ôi! Hun hút hành trình đi tìm công lý.
Anh Đức – Thu Hương – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 10(175)2001

Siêu Thọ hay huyền thoại? – Phần 2

Bá tước Giăng Phêđêrích Đơ Vanđếch sống được 109 tuổi, và là họa sĩ có tài.
Lúc nhỏ, cụ là thi đồng cho nữ hoàng Maria Antoan-nét. Lúc tròn 100 tuổi, cụ còn vẽ được tranh. Cụ Xêcácđô Hôngô, ngừơi Vênêduêla, sống tới 115 tuổi, ngoài 100 tuổi tóc vẫn còn đen và tới năm 113 tuổi răng mới bắt đầu rụng. Cụ Rôbớt Tây Lo là một viên chức ngành biểu điện sống tới 134 tuổi (1764 – 1098). Nữ hoàng Víctôria tặng cụ bức ảnh của mình có ghi dòng chữ… “Nữ hoàng Víctôria tặng cụ Tâylo nhân diệp cụ thượng thọ hiếm có”. Quá cảm động vì món quà của nữ hoàng, cụ già đã ngã xuống, và không bao giờ dậy được nữa.
Nhiều cụ sống lâu đều là những người lao động: Cụ Đacâylơ, người Xcốtlen, suốt 80 năm làm việc trong mỏ than, đã sống tới 133 tuổi. Cụ Xuritôn, người Na Uy, sống tới 160 tuổi. Tộc Trưởng Apđen Môhamét, người Pakixtan, qua đời lúc 180 tuổi. Con trai cụ thọ hơn cha, đã sống tới 200 tuổi. Cụ Pitơ Sac-ten, người Hungari, qua đời khi bước sang tuổi 185.
Còn sống trên 200 tuổi, kể là xưa nay hiếm, như cụ Tômát Cácnơ thọ 207 tuổi, trải qua 12 đời vua nước Anh. Cụ Lý Trụ Nhân, người Trung Quốc, qua đời lúc 252 tuổi. Trên 200 tuổi cụ vẫn vào rừng hái thuốc. Ở Nhật Bản có gia đình cụ Mampe cũng thật kỳ lại. Năm 1795 cụ Manpe đã 194 tuổi còn sống cùng với cụ bà 173 tuổi, con trai 153 tuổi và nàng dâu 145 tuổi. Vua Nhật cho mời gia đình tới Êđô (nay là Tôkyô). 48 năm sau cụ lại được ra kinh đô dự lễ khánh thành chiếc cầu mới, lúc này cụ đã bước sang tuổi 242 và cụ bà đã 221 “cái xuân” cùng “cụ” con trai 201 tuổi!
Thế kỷ này cũng ghi nhận nhiều cụ siêu thọ: Cụ Đarô Aga, người Thổ Nhĩ Kỳ, thọ 156 tuổi; cụ Mô-hamét Aba, người Iran mất năm 180 tuổi, có tới 170 con cháu chút chít đưa tang cụ. Ở Angiêri có cụ Bon Metxut cũng là loại siêu thọ, cụ ra đi lúc 160 cái xuân qua. Cụ Xirali Mutxilốp, nguời Adécbai-gidan đẻ lại 200 con cháu chắt chút chít lúc cụ 168 tuổi, cụ Eliat Maixô, người Nam Phi, từ giã cõi đời lúc 160 tuổi, còn cụ Ali Apden Aphun , nguời Gioocđani cũng mất lúc năm cà cùng lứa tuổi với cụ Eliat Maixô.
Năm 1976, cụ Saclơ làm lễ thượng thọ, nhân ngày sinh thứ 134. Cụ sinh ở Châu Phi, năm 12 tuổi bị tàu buôn Libêria bắt cócđem bán ở bang Tếchdát (Mỹ). Đúng năm chừng thượng thọ là năm kỷ niệm 200 năm thành lập Hợp chuẩn quốc Hoa Kỳ, nhưng cụ không được quyền bầu cử Tổng thống vì cụ không có giấy tờ xác nhận là cụ tới từ Hoa Kỳ trước ngày 30/6/1906
Nhiều cụ già vẫn đựơc vẻ đẹp trời cho, như bá tước Đêmông, nguời Ailen, trên 100 tuổi vẫn biểu diễn trên sân khấu; 140 tuổi, cụ vẫn đi từ Brixtơn tới Luân Đôn. Và tới năm 145 tuổi cụ từ biệt chúng ta. Cụ Pôlina Đờ Vina, nguời Pháp ở Tuludơ, vẫn đẹp như hồi còn con giá, đến nỗi khi ra phố mị ngừơi xúm quanh cụ chiêm ngưỡng sắc đẹp của “lão bà xinh đẹp”. Toà thj chính phải ra lệnh khá là kỳ quặc” Mỗi khi công dân Pôlina Đờ Vina ra đừơng phải che mặt.
Cho đến nay những cụ bà 70 -80 không còn là người hiếm, và theo dự đoán của UNESCO thì tới năm 2025 số người trên 100 tuổi sẽ tăng gấp 3 lần so với hiện nay.
Tố Lan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Siêu Thọ hay huyền thoại? – Phần 1

Theo các số liệu thống kê thì tuổi thọ của loài người ngày càng tăng. Giới hạn 100 tuổi không còn là ngưỡng khó vượt qua. Có rất nhiều cụ đã bước qua tuổi 100 và có nhiều cụ cũng vượt qua tuổi 200. Trước đây, người ta chúc cô dâu chú rể: “Bách niên giai lão”, thì đã có những cụ “nhị bách niên giai lão”. Từ lâu, các sách sử đã chép được những câu chuyện siêu thọ và những huyền thoại tưởng như khó tin mà có thật!
Ngay từ năm 76, dưới thời Hoàng đế Vecpaxian, nhà văn cổ La Mã là Plini đã ghi chép có hệ thống về những cụ siêu thọ. Thời đó, ở vùng Apennan và sông Lô có 54 cụ sống trên 100 tuổi, 14 cụ đạt 110 tuổi, 2 cụ đạt 120 tuổi, 4 cụ qua đời vào lúc đạt 130 tuổi, 4 cụ phải luyến tiếc cõi đời khi đã 140 tuổi trời cho.
Ở thế kỷ trước, Tại Pháp có 83 cụ sống thọ 110 – 116 tuổi. Phần lớn các cụ siêu thọ này sống ở vùng Tây Nam nước Phápvà ở ốc Đảo Cóoc. Ở nước Phổ cũ có 91 cụ sống thọ trên 100 tuổi, còn ở nước Đức có 63 cụ cũng vượt tuổi bách niên.
Theo số liệu thống kê, năm 1885 ở Châu u có gần 3.000 cụ sống thọ trên 100 tuổi, khả năng sống của con người thật kỳ diệu! Người ta cho rằng tuổi càng già sức càng suy, phản ứng càng chậm, nhưng thật kỳ lạ nhiều cụ siêu thọ , tuổi cao vẫn hoạt đọng bình thường.
Năm 1905, Môirit Giên Kinxơ, người Xcốtlen, sinh năm 1501, và qua đời khi cụ tròn 169 tuổi. cụ nhiều lần được tòa án mời ra làm chứng cho những vụ kiện cách đó hàng trăm năm. Một lần tòa án mời cụ đến dự phiên tòa xử một việc liên quan tới câu chuyện cách đó 140 năm. Cụ cùng với hai ông con trai 113 tuổi và 109 tuổi tới dự phiên tòa và làm chứng cho sự kiện cách đó gần thếkỷ rưỡi. Năm 100 tuổi, cụ còn bơi qua sông rộng, vượt lên trước cả một số thanh niên trai tráng.
Cụ nông dân Tônmat Pa năm 102 tuổi còn kết hôn ngoài pháp luật với một cô gái trẻ, và cụ bị phạt vạ vì câu chuyện hôn nhân “không tiền khoán hậu” đó. Thế mà, 18 năm sau khi tròn 120 tuổi, cụ lại cưới thêm một bag goá, và kết quả về cuộc tình duyên này là “cậu Maicơn chào đời”. Cu Maicơn cũng thọ tới 123 tuổi. Năm 130 tuổi cụ Tômát Pa vẫn làm việc đồng án bình thường. Nhà vua biết tin, cho mời cụ về sống ở Luân Đôn, tại nhà bá tước Arônđơ. Cụ thọ 152 năm 9 tháng. Khi giải phẫu cơ thể cụ bác sĩ Uyliam Hacvây, nhà giải phẫu nổi tiếng thời đó đã cho biết: Cụ Tômát Pa vẫn béo tốt, ngực nở, tim và não rất khỏe, sụn sườn không bị lão hóa như các người già khác. Các bác sĩ kết luận rằng: Cụ chết do béo quá, vì ăn uống quá dư thừa, khác với thói quen ăn uống ở quê nhà là bánh mì, bơ, sữa. nếu tiếp tục sống nơi thôn dã có lẽ cụ còn sống được lâu hơn nữa.
Người ta còn kể chuyện cụ Ramôn Hac-xi Đian, người Đôminicana, cưới vợ lần đầu vào tuổi 115. Vợ là cô – Tô-mát Pêret xinh đẹp mới có… tuổi. cặp vợ chồng chênh lệch nhau chỉ thiếu một năm nữa là tròn 1 thế kỷ, vẫn tìm thấy tiếng nói chung, vẫn chung một nhịp đập của tình yêu, và sống chung rất hạnh phúc.
Tố Lan – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 8(173)2001

Đền công đoạn kết câu chuyện loa thành

“Bỏ con, bỏ cháu không bỏ mồng sáu tháng giêng”.
Mồng sáu tháng giêng (âm lịch) lễ hội Cổ Loa . Và chỉ sau đó 1 tháng 10 ngày, tại Diễn Châu – Nghệ An lễ hội tế Thần Thục An Dương Vương lại một lần nữa diễn ra; Lễ hội Đền Công – 15 tháng 2 âm lịch. Đây là một lễ hội lớn ở Nghệ An, thu hút hàn vạn lượt người từ khắp nơi đổ về trẩy hội. Không giống như lễ Hội Cổ Loa, luôn có 3 phần; lễ tế thần, lễ ước kiệu, khách thập phương dâng hương, vui hội, lễ hội Đền Công chỉ có lễ tế thần, sau đó các sinh hoạt văn hóa: hát tuồng, chèo, thả đèn hoa.
Mùa Xuân, đến với Đền Công không chỉ có dịp cầu phúc, cầu tài mà là dịp để lòng người ghi dấu đoạn kết của câu chuyện Cổ Loa Thành: An Dương Vương đem công chúa Mỵ Châu chạy trốn kẻ thù, tới Diễn Châu thì dừng lại. Nhận ra sự thật, vua chem. Con gái yêu rồi theo thần Kim Quy đivề phía biển … Truyền thuyết và lịch sử, thực và hư, những dấu tích đã rêu phong, đã hoen mờ cùng thời gian, chỉ còn lại đó là một Đền Công linh thiêng và lòng ngưỡng vọng của nhân dân nhưng cũng đủ để ta rút ra bao nhiêu điều đáng chiêm nghiệm…
Đền công là một di tích lịch sử đã được Nhà nước xếp vào hạng và cũng là một danh thắng mà bất cứ ai đã đến sẽ khó quên bởi sự kết hợp hài hòa của kiến trúc và cảnh sắc thiên nhiên như thể đã có một sự thỏa thuận từ ngàn đời trước giữa tạo hóa và bàn tay con người.
Đền nằm ở lưng chừng núi Mộ Dạ, ngay kề Quốc lộ I. Phía sau núi là biển cả mênh mông, ngày đêm sóng vỗ rì rào. Mỗi ban mai, vầng dương từ biển nhô lên phủ cho cảnh vật một vầng hào vang rực rỡ.
Đứng từ quốc lộ I nhìn lên, cổng Tam quan cao vời vợi. Ba tầng lầu như tôn thêm vẻ cổ kính bởi lớp rêu phong và những cây si nảy mần từ các kẽ đá bám rễ leo lên đến tận lầu thượng. Kiến trúc bên trong đêm phần lớn đều được tu bổ lại nhưng dáng xưa còn đó trên ác cây cột đồ sộ, những chạm nổi rồng phượng tinh xảo, những câu đối viết bằng chữ Hán của các quan lại, danh nho thời trước muốn tỏ lòng tong kính với vua Thục An Dương Vương.
Bước vào bên trong đền thờ Thần An Dương Vương, ta gặp được cõi tĩnh mịch, trở ra ngoài lại thấy cảnh núi non, trời , biển… Chính địa thế ấy đã khiến tâm hồn con người thanh thoát như lời của rất nhiều du khách thập phương. Phải chăng vì lẽ đó hay sự linh thiêng của ngôi Đền mà người đến với chốn ấy ngày một đông?! Những năm gần đây, du khách trẩy hội Đền Công muốn vào thắp hương trong ngày tế lễ luôn phải vất vả vì chen chân từ dưới chân núi.
Lòng thành kính, cầu an khiến ngay chính những người tổ chức lễ cũng phải ngạc nhiên. Chốn ấy là đất linh thiêng “ cho nên cũng tùy lòng tín ngưỡng của nhân dân chứ không ngăn cấm được” – (Lời của Phan Huy Lương – quan phó bảng ở Nghệ An năm 1874 viết trong bài văn bia khắc vào đá ở đền)
Nguyễn Hương Giang – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 7(172)2001