Đồ lưu niệm với du khách

Thói quen mua một vài món quà xinh xắn làm đồ lưu niệm là niềm vui thích của bất cứ du khách nào trong mỗi chuyến tham quan. Nhưng đến thăm các khu di tích văn hóa – lịch sử và các danh thắng của Thủ đô ngàn năm văn hiến, du khách vẫn cứ ngẩn ngơ, như thiếu một vật gì khi tạm biệt nơi đây.
Tại các cửa hàng bày bán đồ lưu niệm trong các di tích văn hóa lịch sử, la liệt các loại đồ, từ vật dụng thường nhật đến đồ vật tương đối lớn, nhưng du khách chỉ xem rồi lướt qua. Anh Long, người Nha Trang thấy tôi mãi ngắm những hộp khảm trai xinh xắn ở một cửa hàng trong Đền Ngọc Sơn, đã hỏi: “Em thích những vật này à? Quê anh nhiều lắm, vùng biển mà! Anh chỉ muốn chọn đồ mang hương sắc Hà Nội thôi mà chưa thấy”. Quả là dạo qua một vòng các khu di tích, danh thắng, tôi chỉ thấy đồ khảm trai và đồ trang sức bằng bạc có số lượng nhiều nhất. Nhưng chúng lại không khái quát ý nghĩa gì của một di tích lịch sử, cũng như không gợi cho du khách về truyền thuyết của thần rùa năm nào. Trong một góc nhỏ phía cuối cửa hàng, có một vài chú rùa khiêm tốn ẩn mình sau những khung tranh, ảnh to nhỏ.
Có lần, vào thăm chùa Một Cột, tôi ngạc nhiên khi thấy đoàn du khách nước bạn tụm lại ở giá hàng bán toàn các đồ lưu niệm của Trung Quốc. Hỏi một chị người Nhật, mới biết đồ Trung Quốc dễ bắt mắt, nhỏ nhắn và giá cả phù hợp, còn đồ lưu niệm của ta có một số loại chị rất thích nhưng to và nặng, còn những đồ khác chưa thật đặc trưng. Đến thăm các đền chùa, những địa danh văn hóa – lịch sử như Văn Miếu, chùa Kim Kiên, Bảo tàng Hồ Chí Minh, du khách chỉ có thể nhìn ngắm những tranh, ảnh in dấu ấn lịch sử ngày xưa, còn để tìm một đồ vật gắn với những dấu ấn đó rất khó. Vì ở các cửa hàng chỉ bày bán những đồ vật thường dùng là túi xách tay bằng da, thổ cẩm giả, mũ, một vài đồ đồng, vòng tay các loại… Một người khách ở cửa hàng trong Bảo tàng cứ đi đi lại lại hỏi vật này, đồ kia cô bán hàng trả lời: “Cổ rồi bác ơi! Bác chọn loại bác xứ này đi, của Hàn Quốc chính hiệu đấy”. Phải chăng, những mặc hàng của ta chưa thật đặc sắc, chưa thật đặc trưng? Thực tế, ngoài tranh ảnh, các cửa hàng bán đồ lưu niệm ở các di tích có rất ít đồ gắn với di tích văn hóa lịch sử.
Đã gọi là đồ lưu niệm, du khách chỉ muốn mua một vài đồ vật nào đó mang màu sắc của các địa danh, đồng thời hợp với túi tiền. Dạo quanh những đường phố cổ ở Hà Nội như Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Đào… bạn sẽ thấy không khí mua bán thật sầm uất nhưng lượng hàng dành cho du khách làm đồ lưu niệm rất ít. Thật hiếm có khách tham quan từ các tỉnh, thành ghé vào các cửa hàng ở đây, chủ yếu là khách nước ngoài, bởi vì giá bán ở đây rất cao đều và được tính bằng tiền đô.
Ông Rodolfol, khách du lịch người Ý, đã hỏi tôi về xuất xứ tấm thổ cẩm rất đẹp, khi thấy tôi mân mê nó. Trong khi đó, chủ nhân của nó lại đang nhếch mắt nhìn chúng tôi. Đáng lẽ, những sản phẩm tinh hoa như vậy phải được đan xen giữa việc bán và cách chào hàng sao cho thật lôi cuốn, hấp dẫn khách hàng thì ngược lại, người bán chỉ coi đó là thứ hàng hóa nhu yếu mà không hiểu giá trị văn hóa của món đồ, hẳn du khách không muốn mua. Hoặc nếu có mua, họ đâu có giới thiệu được với bạn bè về giá trị văn hóa truyền thống qua những món đồ đó?
Tôi nhớ mãi câu nói của ông C.Breau, giáo sư trường Đại học Texas của Mỹ: “Tôi đã đến thăm tất cả di tích văn hóa lịch sử của Thủ đô Hà Nội nói riêng và của đất nước bạn nói chung, tôi nhận thấy các bạn Việt Nam chưa khái thác hết tiềm năng của một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Chưa biết thổi hồn vào sắc văn hóa phi vật thể vào những đồ lưu niệm”. Ở Nhật Bản, để thu hút khách mua đồ lưu niệm truyền thống như áo kimônô, tranh thêu phong cảnh… có hẳn một đội ngũ bán hàng có ngoại ngữ giỏi, khả năng cao trong cách giới thiệu ý nghĩa của từng đồ vật. Những đồ vật bán ra đều gắn liền với phong tục tập quán của từng vùng trong nước. Ở Thái Lan, Malaysia còn khéo léo kết hợp những điệu múa dân tộc trong các cửa hàng bán trang phục dân tộc. Cách làm sống động những đồ lưu niệm đó không chỉ gây cho khách những ấn tượng sâu sắc về nền văn hóa của nước họ mà còn khiến khách không thể mua một vài đồ lưu niệm thân thương đó.
Ngày nay, Thủ đô Hà Nội đang ngày càng phát triển. Đặc biệt, du khách từ trong nước và quốc tế đến rất đông. Nhưng danh thắng của Thủ đô là nơi du khách tập trung nhiều nhất. Vậy tại sao chúng ta không dành cho khách những món quà sắc nét của hương đất và hồn người Hà Nội ở đây?.
Hoàng Hiền – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 19(181)2001

Châu Á sẽ là khu vực phát triển nhất thế giới

Đầu thế kỷ 21, theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO) dự báo, tới năm 2020 số du khách đến Châu Á, sẽ chiếm 1/4 tổng số lượt du khách trên toàn cầu. Tới năm 2020, châu Á sẽ là khu vực phát triển nhất thế giới và sẽ trở thành điểm hẹn chính của du lịch thế giới trong thế kỷ 21.
Mặt khác, vì kinh tế phục hồi và phát triển nên trong thế kỷ 21, người Châu Á cũng sẽ là nguồn khách chủ yếu. Đến năm 2020, vị trí số 1 của Pháp về thu hút du khách nước ngoài năm 1998 sẽ bị Trung Quốc thay thế năm 1998 Trung Quốc mới ở vị trí số 6 và Trung Quốc sẽ trở thành điểm son của Du lịch thế giới, mỗi năm thu hút 130 triệu lượt du khách nước ngoài. Dự toán trong số du khách tới thăm Trung Quốc, một số không nhỏ sẽ ghé qua thăm Hồng K – ông từ vị trí thứ 18 năm 1998 sẽ nhảy vọt lên vị trí thứ 5, mỗi năm thu hút tới 56 triệu du khách.
Tổ chức Du lịch thế giới cũng chỉ rõ rằng, Trung Quốc là một nước lớn của thế giới, mặc dù hiện nay du khách quốc tế vẫn còn có những điều chưa vừa lòng với điều kiện vệ sinh và một số mặt khác, nhưng tiềm lực phát triển của Trung Quốc rất lớn, cùng với đà phát triển kinh tế thì môi trường sống và các mặt hàng khác sẽ được cải thiện hơn nữa, Trung Quốc có một nền văn hóa rất đa dạng và tài nguyên thắng cảnh thiên nhiên phong phú nên vẫn có một sức hấp dẫn lớn đối với du khách.
WTO khuyễn nghị Trung Quốc cần phải có bảo tồn được bản sắc văn hóa của nhiều vùng khác nhau trong nước. Tuy người dân các nơi này đã quá quen thuộc với nền văn hóa và phong tục tập quán của địa phương mình, nhưng với du khách nước ngoài thì đó lại là những khám phá mới mẻ, thích thú. Các du khách Nhật Bản châu u và những vùng lãnh thổ khác của thế giới đều có những sở thích rất khác nhau khi đi đi thăm các danh lam thắng cảnh. Vì vậy phải phân loại, chọn lựa công phu các điểm tham quan, du lịch để có thể giới thiệu đúng với sở thích của từng loại du khách.
Những cố gắng mới
Ngành hàng không và những cố gắng mới trong việc mở rộng tuyến bay, trong những năm 1997 – 1998, do sự ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, ngành hàng không cũng có nhiều bước gian nan. Những bắt đầu từ giữa năm 1999, tình hình sản xuất – kinh doanh của Tổng công ty hàng không Việt Nam đã bắt đầu được phục hồi trở lại. Bằng nhiều biện pháp chiếm lĩnh thị trường để tăng thu, đồng thời nhờ kết quả chuyển giao thành công công nghệ khai thác, bảo dưỡng A320 từ giữa năm 1998 và một số biện pháp tiết kiệm, trong năm 1999 lợi nhuận trước thuế từ hoạt động vận tải toàn mạng đã đạt gần 500 tỷ đồng, các khó khăn về cán cân thanh toán gặp phải trong giai đoạn 1997 – 1998 đã được khắc phục hoàn toàn.
Năm 2000, thị trường vận tải Hàng không có những bước tiến vượt bậc. Ước tính đến hết tháng 12 năm 2000 Việt Nam Airlines đã thực hiện trên 26.900 chuyến bay, vận chuyển 2.859.000 hành khách, tăng gần 2% so với kế hoạch năm (tăng 11% so với cùng kỳ năm trước), trong đó có 1.688.000 khách trong nước (tăng 6,8% so với cùng kỳ) và 1.170.000 hành khách quốc tế (tăng 16% so với cùng kỳ). Riêng trong quý 3, hệ số sử dụng ghế bình quân dạy 82%, tăng 4,17 điểm so với cùng kỳ năm 1999. Thị phần vận chuyển khách quốc tế đạt 38,35% tăng 1,2% so với cùng kỳ. Các xí nghiệp phục vụ thương mại mặt đất Nội Bài, Đà Nẵng Tân Sơn Nhất đã phục vụ cho 10.900 chuyến bay của các hãng Hàng không nước ngoài với 1.488 lượt khách.
Điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh năm 2000 của Việt Nam Airlines là phục hồi và mở rộng mới 6 đường bay, trong đó hai đường bay Thành phố Hồ Chí Minh đi Xiêm Riệp và Quảng Châu đã thực hiện, 2 đường bay từ Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đi Seul, đường bay xuyên Đông Dương nối liền Hà Nội, Viêng Chăn, Phnom – pênh và Thành phố Hồ Chí Minh, đường bay Thành phố Hồ Chí Minh – Tô ky ô (hợp tác với các hãng hàng không Nhật Bản) đã thực hiện trong tháng 11. Ngoài ra Việt Nam Airlines còn tăng tần suất bay trên hầu hết các đường bay quốc tế đi Ô saka, Đài Bắc, Hồng K-ông, Băng Cốc, Kualalumpur… Với các chương trình phát triển như vậy, dự kiến năm 2000, Việt Nam Airlines sẽ vận chuyển được 2,8 triệu hành khách (tăng 9,7% so với năm 1999) và 4,4 tỷ hành khách/ km (tăng 15,6% so với năm 1999).
Về chất lượng phục vụ hành khách ở mặt đất và trên không, trong năm 2000 Việt Nam Airlines cũng đã đạt được một số mặt tiến bộ. Về tổng thể chất lượng dịch vụ, Việt Nam Airlines được xếp hạng thứ 35 trong số các hãng hàng không được xếp hạng trên thế giới (2 – 3 năm trước đây chỉ xếp thứ 44) và vượt qua nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực (các hãng của Hàn Quốc, Trung Quốc): đặc biệt đội ngũ tiếp viên hàng không được xếp hạng thứ 4 thế giới đối với hạng doanh nhân và thứ 7 đối với hạng du lịch.
Để đáp ứng mục tiêu và phát triển định hướng cho thời gian tới, tăng năng lực cạnh tranh trong điều kiện thị trường phát triển trở lại, củng cố nâng cao chất lượng phục vụ hàng khách, lấy lại uy tín với khách hàng đồng thời tăng tính ổn định của lịch bay, cuối năm 2000 Tổng công ty Hàng không Việt Nam đã thuê bổ sung 4 máy bay trong đó có 2 Boeing 767 và 2 ATR – 72. Số lượng máy bay A320 dự kiến cũng sẽ được bổ sung thêm trong năm 2000. Đồng thời công ty đã và đang phát triển khai thác nhiều chương trình nâng cấp chất lượng trong các mảng phục vụ mặt đất, phục vụ trên không, các dịch vụ khách hàng trong hoạt động bán…
Hy vọng rằng, bước sang thiên niên kỷ mới, ngành hàng không Việt Nam ngày càng phát triển và tăng thêm nhiều chuyến bay hơn nữa để phục vụ nhu cầu ngày một cao của khách hàng.
Hữu Nghị – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Uy tín và điều kiện

Uy tín và điều kiện để tôi ổn định và phát triển, trước hết xin chân thành cảm ơn Báo Du lịch đã giúp đỡ chúng tôi trong thời gian qua và cho tôi cơ hội gặp gỡ này. Công ty Du lịch – Dịch vụ Hội An thành lập năm 1990. Từ một khách sạn mini o8 phòng này Công ty đã có khách sạn Hội An 120 phòng tiêu chuẩn 3 sao, Khu du lịch biển Hội An 80 phòng và trung tâm lữ hành. Đạt được kết quả này là nhờ sự phấn đấu không mệt mỏi của tập thể Ban Giám đốc, Cán bộ công nhân viên toàn công ty, nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ của chính quyền địa phương, của các đối tác các đồng nghiệp và sự tin yêu của khách du lịch. Với kết quả đó Công ty đã được các cấp các ngành khen nhiều bằng khen, danh hiệu… Năm 1999 được Nhà nước tặng Huân chương lao động hạng 3, Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và danh hiệu Topten các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả.
Sau sự kiện Phố Cổ Hội An và Thánh Địa Mỹ sơn được công nhận là di sản văn hóa thế giới, lượng khách đến Hội An nói chung và đến Công ty tăng lên khá nhanh (35%). Công suất sử dụng phòng cũng được nâng cao (65 – 705). Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của du khách, Công ty đã nỗ lực rất lớn nâng cao chất lượng phục vụ, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng du khách.
Phóng viên: Kinh doanh trong điều kiện đặc thù của Hội An, để giữ được vị trí topten của Du lịch Việt Nam, theo chị cần nhất điều gì?
Bà Võ Thị Thu: Uy tín của công ty! Đó là điều kiện để chúng tôi ổn định và phát triển. Đặc thù của du lịch Hội An là du lịch văn hóa, lễ hội, sinh thái và cảnh quan… môi trường. Để du lịch Hội An phát triển và xứng đáng với vùng đất đầy tính nhân văn, trong những năm qua chính quyền và nhân dân thị xã Hội An đã ra sức giữ gìn và trùng tu đô thị cổ, chống các tệ nạn cò mối, ăn xin tệ nạn xã hội…
Tổ chức nhiều lễ hội truyền thống, tổ chức đêm Phố Cổ Hội An đảm bảo an ninh trật tự để tạo điều kiện du lịch phát triển bền vững. Sắp đến chính quyền thị xã có nhiều chủ trương nhằm phát triển du lịch như: tổ chức chợ ẩm thực vào ban đêm ở những đường phố chính, thắp đèn lồng và trang phục theo lối cổ xưa. Theo tôi đó là những điều kiện rất thuận lợi để du lịch Hội An phát triển.
Để giữ được vị trí topten của du lịch Việt Nam, Công ty chúng tôi luôn định hướng phát triển du lịch bền vững, gắn với du lịch với văn hóa. Chú trọng khai thác thế mạnh về văn hóa, lịch sử, lễ hội truyền thống và gắn kết ba di sản thế giới: Hội An – Mỹ Sơn – Huế tạo thành trọng điểm du lịch liên vùng. Mở rộng không gian du lịch biển, du lịch sinh thái và tổ chức thêm các dịch vụ vui chơi giải trí.
Phóng viên: Và khu du lịch biển Hội An của Công ty được xem là bước đột phá?
Bà Võ Thị Thu: Hội An không chỉ nổi tiếng với một khu phố cổ mà còn được biết đến như là một nơi nghỉ biển lý tưởng với bãi tắm Cửa Đại 7 km nước trong, cát trắng. Nắm bắt được nhu cầu nghỉ biển của du khách khi đến thăm Phố Cổ Hội An và Thánh Đại Mỹ Sơn cũng như chủ trương mở rộng không gian du lịch của địa phương. Công ty đã mạnh dạn đầu tư xây dựng khu du lịch Biển Hội An có diện tích hơn 3.000 m2 với tổng kinh phí trên 30 tỷ đồng. Đây là một khu du lịch mang dáng dấp làng quê Việt Nam truyền thống, với nhiều cụm biệt thự sang trọng ẩn mình dưới rặng cây xanh, được bao bọc bởi giữa bãi tắm Cửa Đại và Sông Đế Võng rất ấn tượng với du khách mỗi khi có dịp nghỉ lại “Hoi An Beach Resort”. Sắp đến công ty chúng tôi sẽ đầu tư các dịch vụ vui chơi thể thao giải trí trên sông và trên biển, đẩy mạnh du lịch sinh thái, du lịch sông nước gắn với rừng dừa Bảy Mẫu (Cẩm Thanh), một khu căn cứ địa cách mạng, du lịch Cù Lao Chàm… Dự án này đã được đưa vào hoạt động giai đoạn I ( 50%) vào tháng 8/ 2000, phần còn lại sẽ hoàn tất vào cuối quý I năm 2001.
Chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa bằng cả tâm huyết của mình để góp phần phát triển, tạo ra một diện mạo mới cho bức tranh du lịch Hội An trong tương lai.
Năm mới kính chúc Báo Du lịch thắng lợi, chúc các đồng chí sức khỏe.
Đầu xuân phòng vấn
Đầu xuân phỏng vấn – Đầu xuân phỏng vấn, ông Đỗ Văn Hoàng – Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc công ty. Tuy nhiên trong những năm gần đây với sự quan tâm của Đảng và Chính phủ với những biện pháp cải cách đổi mới trong công tác phát triển du lịch đã tạo ra sự nhận thức của toàn dân về tằm quan trọng của du lịch trong đời sống kinh tế cả nước, cùng với những điều kiện thuận lợi cho thiên tai ưu đãi, với chính sách mở cửa và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới , với nỗ lực và quyết tâm của ngành trước mắt là theo kịp các nước tiên tiến trong khu vực và dần dần tiến đến hội nhập quốc tế, tôi tin tưởng rằng du lịch Việt Nam sẽ tiến nhanh tiến mạnh trong thời gian tới.
Nhân dịp năm mới, thay mặt tập thể Tổng Công ty Du lịch Sài Gòn, tôi xin gởi đến toàn thể bạn đọc báo Du lịch những lời chúc tốt đẹp nhất.
Vâng Thiên – Du Lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT – DL – Hà Nội – Số 55 (191) – Năm 2001

Ông allen jenning

(Người Úc)
Tại sao ông lại chọn Mai Châu – Hòa Bình cho chuyến du lịch?
Nghe nói, Hòa Bình có nhiều thung lũng trù phú và những bản làng nên thơ với nét văn hóa dân tộc đặc sắc. Vì vậy, tôi đã chọn tour đi bộ từ Mai Châu – Hòa Bình đến các bản làng để tìm hiểu và khám phá nét văn hóa đặc sắc của người dân tộc Thái.
Ông cảm nhận được gì về văn hóa dân tộc Thái?
m thanh độc đáo của tiếng khèn bè, khèn lá đem lại cho tôi cảm giác thích thú lạ thường. Những gian nhà sàn đã cho tôi cảm giác mới mẻ khi ngủ tại đây.
Từ Mai Châu ông đã đặt chân đến những bản nào?
Từ Mai Châu, tôi đã đi thăm Bản Lác, Bản Văn đi bộ đến Bản Xà Lĩnh (dân tộc H’Mông), đến Hang Kia, đến Bản Táu Nà, Bản Củm Pheo, Bản Săm Khèo… Mỗi bản đều có một phong tục riêng.
Chỉ có Mai Châu mới hấp dẫn ông thôi ư?
Không, tôi còn đến Kim Bôi để tắm suối khoáng. Nước thì thích lắm nhưng con người nơi đây không cởi mở, nhiệt tình lắm. Khu đi dạo còn bẩn và nhiều muỗi, nhà vệ sinh chưa thật sạch sẽ.
Tri thức, tự tin…
Ngày đầu tiên là thành viên trong ngôi nhà Tổng cục Du lịch, các tân công chức của ngành Du lịch không tránh khỏi những giây phút ngỡ ngàng, hồi hộp. Nhưng sự cuốn hút của công việc, tình cảm tin yêu của những người đi trước đã giúp họ sớm trở nên tự tin và phấn chấn hơn. Dưới đây là những lời bộc bạch trong cuộc trò chuyện với phóng viên báo Du lịch của 3 người đạt kết quả cao trong tổng số 18 công chức trẻ mới được tuyển chọn.
Vũ Nam (Vụ Tổ chức – cán bộ): “Khi được phân công về Vụ Tổ chức – cán bộ, em hơi bị bất ngờ, vì em nghĩ mình tốt nghiệp khoa Du lịch, trường Đại học Khoa học Xã Hội và Nhân văn chắc sẽ làm ở Vụ Du lịch hay Vụ Khách sạn. Tuy nhiên, em cũng đã tốt ngiệp Học viện Hành chính quốc gia, nên có thể được chọn là một trong số những người cần cho hoạt động tổ chức – cán bộ. Chắc chắn sau thời gian tập sự, khả năng của em sẽ bộc lộ và được bố trí công việc phù hợp. Với em, dù làm công tác tổ chức – cán bộ hay một lĩnh vực chuyên môn du lịch nào đó, em đều thấy tự tin vì đã được trang bị những kiến thức cơ bản từ trường Đại học”.
Thu Hồng (Vụ Pháp chế): “Em tốt nghiệp trường Đại học Luật năm 1999. Được vào công tác tại Vụ Pháp chế là hoàn toàn phù hợp với khả năng cũng như nguyện vọng của em. Ngày đầu tiên trở thành công chức của ngành Du lịch em thấy xúc động vô cùng. Các cô chú đón chúng em bằng tình cảm cởi mở, thân thiện, khiến cho bọn em thấy tự tin hơn. Mặc dù chưa biết cụ thể mình sẽ phải làm gì, làm như thế nào, nhưng được các cô, các chú tin tưởng, chắc chắn chúng em sẽ đạt hiệu quả cao trong công việc. Khó khăn ư? Không tránh khỏi, nhưng em tin mình sẽ vượt qua, em đã có chút ít hiểu biết về công việc của Vụ Pháp chế thông qua các bạn của mình từng làm ở một số ngành khác…”
Ngọc Diệp (Vụ Hợp tác quốc tế): “Em tốt nghiệp khoa Quan hệ quốc tế trường đại học Dân lập Đông Đô. Khi đăng ký tham dự thi tuyển, em không hy vọng lắm, vì nghĩ rằng sinh viên tốt nghiệp từ một trường dân lập sẽ rất khó có cơ hội được tuyển chọn. Nhưng thật vui vì em đã trúng tuyển với kết quả cao, điều đó nói lên rằng cuộc thi tuyển thực sự công bằng. Bây giờ em càng vui hơn, tự tin hơn khi được phân công về Vụ Hợp tác quốc tế, phù hợp với kiến thức em đã được học. Em từng có thời gian làm việc tại khách sạn Meliá (Hà Nội) nên đã có chút ít “mạnh dạn” khi tiếp xúc với người nước ngoài, em nghĩ đây là chút “vốn liếng” đáng quý khi thực sự vào việc”…
Hạ long “cháy” phòng
Một vị trong Ban tổ chức lễ hội Hạ Long 2001 nhăn nhó cảm phiền đoàn đại biểu chúng tôi nghỉ 2 người một giường vì lý do toàn bộ thành phố Hạ Long đang lên cơn sốt “cháy” phòng. Sau phút sửng sốt, chúng tôi không những vui vẻ chấp nhận mà còn ngỏ lời chúc mừng cho ngành du lịch Quảng Ninh, bởi còn gì vui hơn khi mà tất cả các khách sạn đầy ắp khách du lịch trong nước và quốc tế.
Bùi Hỏa Tiễn – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 18(181)2001

Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Phần 3

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Để đường lối, chủ trương của Đảng trở thành hiện thực, để Du lịch Việt Nam thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn, để Việt Nam sớm trở thành trung tâm Du lịch có tầm cỡ trong khu vực, cần có sự tập trung chỉ đạo cao hơn của Chính phủ. Cần có chương trình quốc gia về Du lịch để tập trung sức mạnh của các ngành, các cấp cùng vì mục tiêu chung. Cần giải quyết tốt hơn nữa mối quan hệ liên ngành từ Ngoại giao, Công an, Hải quan, Quốc phòng, Hàng không, Giao thông – Vận tải, Văn hóa, Bưu chính viễn thông, Tài chính, Đầu tư, Khoa học – Công nghệ – Môi trường… Đề nghị nghiên cứu sớm mở rộng từng bước diện miễn visa cho khách vào Việt Nam. Chúng ta đã có kinh nghiệm từ thực tế miễn visa cho công dân Thái Lan, Philipines, khách từ hai nước này vào tăng gấp đôi mà vẫn quản lý được. Đề nghị cho phép áp dụng thí điểm việc đơn phương miễn visa cho khách du lịch vào Việt Nam từ một số thị trường trọng điểm. Đề nghị cần có kế hoạch tăng cường năng lực vận chuyển hàng không đáp ứng kịp thời nhu cầu tăng khách du lịch, với chất lượng phục vụ tốt hơn, giá cả phù hợp hơn. Khi có chương trình quốc gia về du lịch, vấn đề môi trường văn hóa trong du lịch cũng sẽ phải được quan tâm chỉ đạo, triển khai tốt hơn. Giao thông – Vận tải, xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp điện, nước… cũng cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm hơn, ưu tiên cho các vùng trọng điểm du lịch. Dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội, dưới sự điều hành chỉ đạo của Chính phủ, các ngành cũng cần có sự phối hợp đồng bộ hơn trong việc tạo ra sản phẩm đặc thù của du lịch Việt Nam – Du lịch văn hóa, cảnh quan, sinh thái.
Kính thưa Đại hội!
Tại diễn đàn trọng thể này, chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương và các cấp ủy, chính quyền địa phương đã hỗ trợ, hợp tác giúp đỡ để du lịch Việt Nam có được những kết quả ban đầu nhưng rất quan trọng ngày hôm nay và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, sự hợp tác hỗ trợ nhiều hơn nữa của các Bộ, Ngành, các cấp trong thời gian tới.
Về phần mình, xin báo cáo với Đại hội, chúng tôi đã xây dựng Chiến lược phát triển Du lịch 2001-2010 trình Chính phủ; có chương trình, biện pháp, kế hoạch hành động cụ thể, để triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành: tập trung vào nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ, tăng cường xúc tiến quảng bá, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực; tranh thủ tối đa sự giúp đỡ và hợp tác quốc tế, quyết tâm đưa Du lịch Việt Nam phát triển với quy mô, tốc độ, hiệu quả cao hơn, đưa Việt Nam trở thành điểm đến của thiên niên kỷ mới, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Xin cảm ơn Đại hội đã quan tâm theo dõi.
Xin chúc các Đại biểu mạnh khỏe.
Xin chúc Đại hội thành công.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Phần 2

Du lịch còn có ý nghĩa, hiệu quả rộng hơn, như tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới tại OSAKA (Nhật Bản): “Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cố hòa bình, là phương tiện góp phần cân bằng cán cân thanh toán quốc tế”. Du lịch còn là phương tiện giao lưu văn hóa, tăng cường hội nhập, phát triển dân trí.
Chính vì vậy, ngày nay nhiều nước trên thế giới đã tập trung phát triển Du lịch. Trung Quốc hiện đứng thứ 6 trên thế giới về phát triển du lịch, đang phấn đấu trở thành một trong những nước du lịch phát triển hàng đầu thế giới, đón 50 triệu khách quốc tế vào năm 2010, 130 triệu khách vào năm 2020. Singapore có số khách du lịch gấp hơn 2 lần số nhân. Thái Lan cũng đón tới 9 triệu du khách. Cu Ba phá thế bao vây cấm vận bằng chủ trương phát triển du lịch, hàng năm đón gần 2 triệu khách quốc tế, thu nhập từ Du lịch gần 2 tỷ USD.
Ở nước ta hoàn toàn cần thiết và có thể tập trung phát triển du lịch như một trong những khâu đột phá để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngoại tệ, rút ngắn khoảng cách, chống tụt hậu.
Báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng toàn quốc lần này đã xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, các vùng đều xác định vị trí mũi nhọn của ngành du lịch. Đại hội Đảng bộ ở nhiều tỉnh, thành phố đã rất quan tâm phát triển Du lịch, coi đó là một ngành kinh tế thứ hai, thứ ba trong cơ cấu kinh tế – xã hội của địa phương. Bộ Chính trị đã có thông báo kết luận quan trọng về phát triển du lịch trong tình hình mới. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh du lịch. Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch do một đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng làm Trưởng ban. Ban chỉ đạo nhà nước về Du lịch đã hoạt động thiết thực có hiệu quả. Các ngành, các cấp đã quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ để Du lịch phát triển. Phấn khởi trước những chuyển biến đó, trên cơ sở nhất trí với những nội dung đã được đề cập trong các văn kiện Đại hội, chúng tôi xin kiến nghị Đại hội quan tâm đến một số vấn đề có tính chủ trương, biện pháp cụ thể như sau:
Vì là ngành kinh tế mũi nhọn, nên Du lịch cần được đầu tư tương xứng với một ngành kinh tế mũi nhọn. Đầu tư để phát triển, muốn phát triển phải đầu tư. 2 năm qua, Du lịch được Chính phủ cấp ngân sách 27 tỷ đồng cho Chương trình Hành động Quốc gia về Du lịch. Kết quả đã làm tăng thêm 600.000 lượt khách quốc tế, tạo tăng thu gần 300.000 triệu USD. Rõ ràng là đầu tư cho du lịch đã có hiệu quả trong tháng, thu hồi vốn nhanh. Gần đây, chính phủ đã đồng ý về nguyên tắc dành ngân sách đầu tư cho vốn thu du lịch quốc gia tổng hợp tại các vùng trọng điểm. Ngành Du lịch đang cùng cán bộ, Bộ, Ngành và các địa phương hữu quan triển khai chương trình này. Chúng tôi tin rằng khi đã có phương hướng phát triển đúng, biết đầu tư tập trung có trọng điểm, Du lịch sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, gọi được nhiều vốn trong dân, trong các thành phần kinh tế.
Cần ổn định, tăng cường nhân lực và hiệu lực quản lý nhà nước về Du lịch từ Trung ương đến địa phương, theo hướng gọn mà tinh. Ngành Du lịch nước ta chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và yêu cầu, có phần do chưa được quan tâm về tổ chức tương xứng. Tổ chức ngành Du lịch không ổn định, chia ra, nhập vào, khi thì nằm trong Bộ Văn hóa, khi chuyển sang Bộ Thương mại, làm chựng bước phát triển. Chúng ta đã có kinh nghiệm của năm 1990, lần đầu tiên phát động Năm Du lịch Việt Nam nhưng cũng lúc đó lại có quyết định nhập Du lịch với Văn hóa , không có tổ chức bảo đảm nên Năm Du lịch Việt Nam 1990 không đạt được kết quả như mong muốn. Chúng tôi đồng tình với đề nghị của nhiều địa phương trong việc thành lập Sở chuyên trách về Du lịch.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Phát triển du lịch nhanh và bền vững, thật sự là ngành kinh tế mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước – Phần 1

(Tham luận tại Đại hội Đảng lần thứ IX của đồng chí Võ Thị Thắng Ủy viên Trung ương Đảng – Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Đại biểu khối cơ quan kinh tế Trung ương)
Kính thưa đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước!
Kính thưa Đoàn Chủ tịch!
Kính thưa các vị khách quý!
Kính thưa Đại hội
Trước hết, tôi xin phép gửi tới Đại hội lời chào tin tưởng, lời chúc mừng nồng nhiệt, kính chúc các đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các vị khách quý và toàn thể đại biểu mạnh khỏe, hạnh phúc, chúc Đại hội thành công rực rỡ.
Tôi xin biểu thị sự nhất trí cao với các văn kiện trình ra đại hội; nhất trí với đánh giá thành tựu công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhất trí với đánh giá khuyết điểm, yếu kém, khó khăn thách thức mà chúng ta đang gặp phải; nhất trí với đường lối, phương hướng, giải pháp, mục tiêu, chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng, do Đại hội đề ra.
Là một đảng viên được Đảng phân công trực tiếp hoạt động trong ngành Du lịch, một ngành kinh tế non trẻ, tôi xin được phát biểu một số ý kiến cụ thể để góp phần nhỏ trong việc tìm ra một cách đi, một khâu đột phá, một mũi nhọn tiến công nhằm phát huy thành tựu của công cuộc đổi mới, khắc phục những khó khăn, hạn chế của một nền kinh tế đang phát triển, thiếu cân đối, có nguy cơ tụt hậu so với một số nước trong khu vực và quốc tế.
Thưa Đại hội!
Qua theo dõi thực tế phát triển gần chục năm nay của du lịch Việt Nam và tổng kết kinh nghiệm phát triển du lịch thế giới, chúng tôi nhận thấy có lẽ ít ngành có thể phát triển với tốc độ nhanh, sớm rút ngắn khoảng cách so với các nước trong khu vực như ngành Du lịch. Trong 10 năm qua, Du lịch Việt Nam có tốc độ tăng trưởng gấp 8,5 lần về lượng khách quốc tế, 11 lần về lượng khách nội địa; từ chỗ đứng hàng thấp nhất trong khối ASEAN, thua Thái Lan 40 lần, thua Philipines 10 lần, đã vươn lên vào hàng trung bình, đuổi kịp Philipines, chỉ còn thua Thái Lan 4 lần. Trước đây, phải mất 34 năm ta mới đón được người khách thứ 1 triệu vào năm 1994. Nay chỉ cần 6 năm, đến năm 2000, nước ta đón người khách quốc tế thứ 2 triệu. Tổng thu ngoại tệ đạt trên 1 tỷ USD. Nếu được tập trung chỉ đạo cao hơn, ngành Du lịch có kế hoạch, biện pháp tốt hơn, sắp tới khoảng thời gian này chắc chắn sẽ còn được rút ngắn hơn. Du lịch là ngành có giá trị xuất khẩu tại chổ rất lớn. Tính bình quân trên thế giới, đón 1 khách, thu nhập được 750 USD. Cao như Australia là 2.200 USD, Singapore thu 1.300 USD, ở nước ta tính thấp là gần 500 USD.
Trên phạm vi toàn cầu, Du lịch phát triển nhanh, với tốc độ tăng trưởng bình quân về khách 7%/năm. Về thu nhập trên 11%/năm. Theo số liệu của tổ chức Du lịch thế giới, năm 2000 khách du lịch trên toàn thế giới đạt 698 triệu lượt người, thu nhập từ Du lịch đạt 476 tỷ USD, tương đương 6,5% tổng sản phẩm quốc dân, và bằng khoảng 1/3 doanh thu khối dịch vụ toàn cầu. Dự báo năm 2010 lượng khách du lịch trên thế giới sẽ là 1 tỷ người, thu nhập đạt 900 tỷ USD và ngành Du lịch sẽ tạo thêm khoản 150 triệu chỗ làm. Tổ chức Du lịch thế giới vừa công bố: xuất khẩu tại chỗ qua Du lịch chiếm tỷ lệ cao nhất trong các ngành hàng xuất khẩu trực tiếp, cao hơn cả xuất khẩu ô tô, máy tính và thiết bị văn phòng, quần áo và vải vóc. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và Du lịch toàn cầu năm 1998 là 6.783 tỷ USD thì xuất khẩu tại chỗ qua Du lịch là 532 tỷ USD, chiếm 7,9%, ô tô 7,8%, máy tính và thiết bị văn phòng 5,9%, quần áo vải vóc 4,9%. Cho nên, để tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng hàng năm 12 – 15%, chúng tôi đề nghị cần kể đến giá trị xuất khẩu tại chỗ của Du lịch và cần tìm mọi cách để tăng lượng khách quốc tế đến nước ta. Nếu năm 2005, ta đón được 4 triệu khách quốc tế, bình quân thu từ một khách lúc đó là 700 USD thì sẽ có tổng thu gần 3 tỷ USD; năm 2010, 7 triệu khách, một khách 900 USD, tổng thu từ Du lịch có giá trị tương đương xuất khẩu tại chỗ 6 tỷ USD. Du lịch còn là nơi tạo công ăn việc làm; cứ 1 lao động trực tiếp cho ngành Du lịch sẽ kéo theo 2 chỗ làm gián tiếp. Du lịch phát triển kéo theo các ngành khác phát triển. Du lịch phát triển đến đâu, đời sống cộng đồng dân cư khá lên đến đấy. Như vậy, phát triển Du lịch có tác động trực tiếp vào chương trình xóa đói giảm nghèo.
P.V – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 17(181)2001

Về với Củ Chi anh hùng

Rời thành phố Hồ Chí Minh có bao điều lý thú, chúng tôi về thăm Củ Chi với sự hướng đạo của một đồng nghiệp báo Sài Gòn Giải phóng. Trời bất ngờ mưa tầm tã khiến trong đoàn có ý kiến e ngại: “Mưa gió thế này mà chui vào địa đạo có mà rắn rết cắn chết!”. Không ai nói gì, bởi trong chúng tôi ai cũng hình dung những đường hầm sau 20 năm chiến tranh đang đầy cỏ dại, gai góc và rắn rết.
Nhưng đến nơi, sự thật ngỡ ngàng dành cho cả đoàn: Mưa lớn vậy mà khách đến tham quan vẫn tấp nập, xe đỗ san sát. Thì ra, “mưa Sài Gòn mưa rồi chợt nắng” mà! Ngay sau đó, chúng tôi được đưa vào rừng. Thật thú vị khi hướng dẫn viên đều ăn mặc như hồi chiến tranh: nam mặc đồ giải phóng, mũ tai bèo, nữ mặc bà ba đen, quàng khăn rằn và đi dé lốp. Sự có mặt của họ bên trong những búi cây, ở mỗi khúc quanh khiến du khách đang có cảm giác đang được sống trong sự thật của Củ Chi thời đánh giặc. Chúng tôi đến một căn hầm rộng , lớp lá cao ngang mặt đất. Đây chính là hội trường của bộ đội. Nữ “du kích” thuyết minh tổng quát về địa đạo Củ Chi với băng tư liệu về những ngày đánh Mỹ. Một anh “bộ đội” lại đón chúng tôi luồn rừng trong mưa, đến một cửa hầm khác, đưa chúng tôi chui vào lòng đất. Khác với sự tưởng tượng của chúng tôi, đường hầm đều sạch bong, khô ráo và có điện sáng trưng.
Địa đạo quả là kỳ quan độc nhất vô nhị: dài 250 km chạy ngoắt ngoéo trong lòng đất, được làm nên từ dụng cụ thô sơ là lưỡi cuốc và chiếc kí xúc đất. Đường hầm sâu dưới đất từ 3 -8 m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Dọc đường hầm có lỗ thông hơi , bên trên được ngụy trang kín đáo và trổ lên mặt đất bằng những cửa bí mật. Liên hoàn với các địa đọa là các hầm rộng để nghỉ ngơi, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẩu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, ngụy trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.
Hãy một lần chui vào địa đạo, ta sẽ thấy rõ chiều sâu thăm thẳm của lòng căm thù, ý chí bất khuất của “vùng đất thép” và sẽ hiểu vì sao một nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng một nước lớn giàu có như Hoa Kỳ? Ta cũng sẽ hiểu vì sao Củ Chi – mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt 20 năm với một đội quân thiên chiến, vũ khí tối tân mà vẫn giành thắng lợi. Cũng từ địa đạo này, cuộc hành trình Crimp (cái bẫy) của Mỹ với 3000 quân bộ, cuộc hành quân Sedarfall gồm 12.000 lính, có xe tăng, máy bay yểm trợ tối đa, nhằm biến Củ Chi thành”khu tự do hủy diệt” đã bị đập tan. Củ Chi thật xứng danh “đất thép thành đồng” qua 20 năm bền bỉ chiến đấu.
Rời khỏ những đường hầm đầy ấn tượng bởi sự thiếu dưỡng khí, chúng tôi về một hầm nghỉ khác trước khi ra khỏi rừng. Những người “lính” lại đón chúng tôi vào và thật bất ngờ khi đĩa săn luộc, bát muối vừng được đưa ra. Cảm giác thời chiến sống lại như thật khiến chúng tôi thấy miếng sắn bùi ngọt hơn trong những tình cảm thân thương đến khó tả…
Giám đốc khu di tích lịch sử tiếp chúng tôi tại nhà nổi bên sông Sài Gòn. Những người con của hai miền đất nước có những sự kiện gắn liền với lịch sử của dân tộc giờ hội tụ lại đây trong không khí thanh bình, để cùng nhớ về truyền thống anh hùng của cha ông với niềm thành kính và tự hào: ATK Thái Nguyên ngày kháng Pháp và Củ Chi thời chống Mỹ. Những ly rượu bé xíu, trong là vắt và nồng nàn được gọi đàu là nước mắt quê hương bên đĩa rau mốp muối chua, giòn và ngon đến lạ! Các anh chị ở Củ Chi còn cho hay: Rau mốp là lương thực chính của quân dân Củ Chi ngày trước, còn giờ đây đang là đặc sản.
Thế cây rau mốp thế nào ạ?
Lá nhỏ, mọc nổi trên mặt nước.
Chắc là giống cây rau rút ngoài Bắc?
Nhưng cây rau rút như thế nào?
Cau hỏi lại trả lời bằng câu hỏi khiến những tiếng cười vang mãi trên mặt sông, làm vỡ cả nhưng mảnh nắng vừa kịp roi xuống nước. Sự giao lưu giữa 2 miền quê thật thú vị và đầm ấm biết bao.
Gió trên sông lồng lộng tiễn chúng tôi rời khỏi Củ Chi, đi qua 18 thôn vườn trầu nổi danh trong tiểu thuyết “Gia đình má bảy”, trở lại thành phố Sài Gòn. Những âm thanh nhộn nhịp, tươi vui của “Hòn Ngọc Viễn Đông” không làm chúng tôi quên đi những cảm xúc rất thật, rất sống và rất đẹp về một vùng đất kỳ tích mà chuyến đi du lịch mang lại.
Thanh Hằng – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH – TT- DL – Hà Nội – năm 12 (177) 2001

Kon Tum – vùng du lịch hấp dẫn

Công bằng mà nói, con số 15.500 lượt khách du lịch đến Kon Tum trong năm 2000 đã chứng tỏ sản phẩm du lịch của Kon Tum dẫu phong phú, hấp dẫn song vẫn chưa đến được nhiều với du khách du lịch. Nguyên nhân thì có nhiều, đang được tỉnh và ngành Du lịch tích cực khắc phục. Năm 2000, ngành đã xây dựng Làng văn hóa – du lịch Kon Kơtu, đưa vào khai thác tuyến du lịch trên sông Đakbla – Lòng hồ Yaly… đã phần nào tạo nên sự khởi động cho hoạt động du lịch ở đây. Tuy nhiên Du lịch Kon Tum chỉ có thể bừng dậy khi những đề án của ngành Du lịch được thực hiện. Anh Huỳnh Đức Tiến – Giám đốc Công ty Du lịch Kon Tum bộc bạch: “Năm 2000 chỉ là năm khởi động, từ năm 2001 – 2003 sẽ là thời gian tập trung xây dựng cơ sở vật chất: xây dựng khách sạn 3 sao Đông Dương (kinh phí gần 20 tỷ đồng), xây dựng nhà nghỉ tại Cửa khẩu Ngọc Hồi – Bờ Y (1,5 tỷ đồng), củng cố và xây dựng thêm một số làng du lịch văn hóa, xây dựng các tuyến, điểm du lịch sinh thái, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, làm hấp dẫn thêm đối với các tuyến du lịch từ sông Đakbla – Lòng Hồ Yaly, phấn đấu năm 2001, Kon Tum đón được 48.600 lượt khách, trong đó khách quốc tế là 1.740 lượt. Đến năm 2005. Đón gần 40.000 khách, trong đó có 7600 khách quốc tế. Doanh thu lúc đó sẽ là 19,6 tỷ đồng, gấp 3 lần năm 2001.
Theo kế hoạch này, Làng du lịch văn hóa Kon Kơtu (lâu nay đã thu hút khách du lịch rất đông) tiếp tục được củng cố, làm phong phú thêm sản phẩm. Từ thị xã Kon Tum, khách qua cầu treo trên sông Đakbla đến làng Kon KơTu, sau đó đi xuyên rừng, trưa ở lại sinh hoạt trong rừng nguyên sinh đầu nguồn Yaly, chiều sẽ được tắm sông, nơi có bãi cát đẹp nhất tại làng Kon Kơtu, rồi đi thuyền độc mộc đến làng KonBả. Từ KonBả, du khách có thể đi bộ hoặc đi xe đạp về lại làng Kon Kơtu để bắt đầu buổi sinh hoạt với dân làng. Du khách sẽ được ăn các sản vật địa phương như cơm lam, uống rượu cần, được cùng ca hát, nhảy múa với trai gái làng, xem biểu diễn cồng chiêng trong ánh lửa bập bùng bên mái nhà rông. Khi ngọn lửa đã tàn, chế rượu đã cạn, du khách sẽ được nghỉ lại tại nhà rông của làng để tận hưởng không khí hoang sơ của khung cảnh núi rừng Tây Nguyên.
Từ mô hình làng Kon Kơtu, Công ty sẽ xây dựng thêm Làng văn hóa du lịch Kondu tại huyện Konplong để kết hợp với tour du lịch sinh thái rừng thông Măngđen; xây dựng điểm dừng chân cho khách đường sông tại làng Chờ (huyện Sa Thầy), Làng Măng La (Thị xã Kon Tum). Đặc biệt là khu vực Bến Cá (xã Ya Chim) có một bãi đá nhô hẳn ra sông, bờ bên kia là rừng nguyên sinh, rất hấp dẫn. Khách có thể đi bằng xe ô tô từ thị xã đến Bến Cá, rút ngắn được thời gian ngồi trên thuyền. Từ đây, khách đi thuyền tham quan lòng hồ Yaly (cách đó 12km), tham quan rừng nguyên sinh, đến làng Rắc (xã Yasia) tham quan tượng nhà mồ Sêđăng. Làng Chờ (huyện Sa Thầy) với diện tích 15ha, sau khi xây dựng hoàn thành sẽ là một khu du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, vui chơi, giải trí, thưởng thức các món ăn chế biến từ cám tham quan vườn nuôi thú… Đây là một bán đảo ba bề sông nước, cảnh quan đẹp và hấp dẫn du khách trong các tour du lịch sinh thái, văn hóa.
Du lịch Kon Tum sẽ có những chuyển biến mạnh trong một vài năm tới. Nhất là khi cửa khẩu Ngọc Hồi – Bờ Y được khai thông sang Lào, đường Hồ Chí Minh hoàn thành giai đoạn 1, du khách có thể đi từ Huế – Đà Nẵng đến Kon Tum, bắt đầu cho tour du lịch sinh thái Tây Nguyên trước khi vào thành phố Hồ Chí Minh. Kon Tum sẽ mở các tuyến du lịch sang Udol (Thái Lan), Atôpư (Lào)… Trung tâm điều hành hướng dẫn du lịch Kon Tum đã kết nối hoạt động với nhiều Công ty lữ hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hai văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh hoạt động bắt đầu có hiệu quả sẽ là nguồn khai thác khách tốt cho Công ty.
Diện mạo của vùng du lịch bắc Tây Nguyên đã dần dần hiện rõ. Kon Tum sẽ là điểm đến đầy ấn tượng đối với du khách bốn phương.
Vân Anh – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001

Hội nghị pata lần thứ 50

Sau 5 ngày làm việc, từ 8 – 12/4/2001, với sự tham gia của 1.325 đại biểu của 55 nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Hội nghị PATA thường niên lần thứ 50 đã kết thúc tốt đẹp tại thủ đô Kualalumphur, Malaysia.
Các đại biểu đã thông qua Nghị quyết về hướng phát triển cho Hiệp hội trong 50 năm tới, khẳng định lại cam kết của Hiệp hội đối với sự tăng trưởng bền vững của lữ hành; thúc đẩy các thành viên công nhận và thực hiện qui tắc của PATA về kiểm soát môi trường, cam kết ủng hộ chương trình xanh toàn cầu.
Cũng tại Hội nghị, PATA và Diễn đàn kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) cũng ký bản “Qui tắc du lịch bền vững”, nhằm thúc giục Hiệp hội và các nền kinh tế APEC trong việc bảo tồn môi trường thiên nhiên, đa dạng hóa sinh học; tôn trọng và ủng hộ nền văn hóa, truyền thống địa phương và cộng đồng.
Khởi công xây dựng khu du lịch suối tiên
Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Hà Giang vừa khởi công xây dựng khu vui chơi giải trí Suối Tiên tại Km2 đường Hà Giang đi Đồng Văn. Tổng diện tích khu vui chơi Suối Tiên khoảng 6.002,8 m2, bao gồm các hệ thống đường nhánh, đường vào hang đá, khách sạn, biệt thự ven suối, Campink, khu bể bơi, bể vẩy nước tự nhiên trong suối và các khu phụ trợ…
Vốn đầu tư công trình là 6.550 triệu đồng, bằng nguồn ngân sách do Công ty Đầu tư và Xây dựng Hà Nội thi công. Là công trình chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Công trình Du lịch Suối Tiên dự kiến hoàn thành vào quý IV năm 2002.
Sau khi hoàn thành, khu vui chơi giải trí Suối Tiên sẽ đón tiếp khách thập phương, nhân dân lao động đến nghỉ ngơi cuối tuần, thăm quan du lịch. Cùng với Hồ Noong, Núi Cấm, Suối Tiên sẽ trở thành cụm du lịch sinh thái trên địa bàn thị xã Hà Giang.
Thỏ hầm rượu – món ăn đặc trưng vùng poitou – charentes
Trong tháng 4 này, Marc Pasrorio Peyssard và Fabien Dupout – hai đầu bếp giỏi của Pháp đã từng gặt hái nhiều huân chương, huy chương trong các cuộc thi nấu ăn quốc tế đã sang Việt Nam. Họ có 2 tuần trình diễn cách nấu các món ăn vùng Poitou – Charentes ở hai khách sạn Sofitel tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Sau đây, hai ông sẽ giới thiệu với các bạn cách chế biến món thỏ hầm rượu – món ăn đặc trưng của vùng biển Poitou – Charentes.
Nguyên liệu: Thỏ 1 con 1,5kg, một ít mỡ lợn nước, 3 nhánh hành hoa, 2 nhánh tỏi, 2 cl rượu cô nhắc, ¼ chai rượu pinô hồng, 3 quả cà chua và húng tây, cây thắng, muối, hạt tiêu (dành cho 5 người ăn).
Cách làm: Thái thịt thỏ thành từng miếng to bằng bao diêm, ướp muối và hạt tiêu. Sau đó, rán vàng từng miếng trong nồi gàng bằng mỡ nước. Gắp ra để ráo mỡ; phi thơm dọc hành và tỏi trong chảo gang. Sau đó cho thịt thỏ đã rán vào, tưới đều hai thìa cà phê rượu cô nhắc rồi đun to lửa, làm mềm thịt thỏ bằng rượu pinô hồng. Cho cà chua cắt hình quả cau, rau thắng và húng tây vào rồi để sôi một lúc. Đậy vung lại, đun vừa lửa trong khoảng 1,5 tiếng (5 phút trước khi thịt chín, cho gan thỏ vào). Xếp thịt thỏ ra đĩa. Chú ý giữ nguyên hình thỏ, tưới nước sốt rồi ăn nóng.
T.B – Du lịch – Tổng cục du lịch – Bộ VH-TT-DL – Hà Nội – Năm 16(181)2001